Taxi San Bay Noibai Dịch vụ hàng không sân bay nội bài, Cho Thue Xe, Hanoi Ha Long, Thue Xe, Hai Phong, Hà Nội Bac Ninh, Hà Nội Hai Duong, Hà Nội Ninh Binh, Taxi tải Nội Bài, Taxi Nội Bài, Nội Bài Taxi, Taxi Việt Thanh, khách sạn Hà Nội, khách sạn nội bài, khách sạn Halong

Xuân Diệu, Pho Xuan Dieu Quan Tay Ho Hanoi, Nha Tho Xuan Dieu, Xuan Dieu Hanoi , Xuân Diệu Ha Noi

Xuân Diệu, Pho Xuan Dieu Quan Tay Ho Hanoi, Nha Tho Xuan Dieu, Xuan Dieu Hanoi , Xuân Diệu Ha Noi,Xuân Diệu, Pho Xuan Dieu Quan Tay Ho Hanoi, Nha Tho Xuan Dieu, Xuan Dieu Hanoi , Xuân Diệu Ha Noi, Taxi Xuan Dieu, Xuan Dieu di San Bay, San Bay Xuan Dieu, Thue xe, Hanoi Thue xe, Thue xe Hanoi, Thue xe Tu Lai, Thue xe gia re, Thue xe du lich, Thue xe may, Xe

Xuân Diệu, Pho Xuan Dieu Quan Tay Ho Hanoi, Nha Tho Xuan Dieu, Xuan Dieu Hanoi , Xuân Diệu Ha Noi

Xuân Diệu (2 tháng 2, 1916 - 18 tháng 12, 1985) là một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam. Nhiều người đã viết về ông và nhiều nhất là về thơ tình của ông. Nhưng trong thơ tình của Xuân Diệu, những đối tượng nào được ông yêu thì hình như chưa có ai bàn đến. Trong khi, đó lại chính là điểm hứa hẹn nhiều chuyện thú vị. Nhà thơ Xuân Diệu không chỉ nổi tiếng với một tài sản thi ca đồ sộ tạo dựng nên danh xưng bất khả xâm phạm "ông hoàng thơ tình Việt Nam" mà cuộc sống riêng của ông cũng nổi tiếng không kém

Nha Tho Xuan Dieu

 Bia Mo Xuan Dieu

 

Nhà thơ Xuân Diệu không chỉ nổi tiếng với một tài sản thi ca đồ sộ tạo dựng nên danh xưng bất khả xâm phạm "ông hoàng thơ tình Việt Nam" mà cuộc sống riêng của ông cũng nổi tiếng không kém. Trong suốt một thế kỷ qua, nghi án giới tính của Xuân Diệu vẫn là một dấu hỏi lớn. Có nhiều lý do, đặc biệt là đặc điểm xã hội trước đây còn e dè với vấn đề giới tính nên nghi án của Xuân Diệu cứ lúc chìm lúc nổi đây đó qua hồi ký, bài viết của một số nhà văn. Ngày nay, khi xã hội đã có một cái nhìn cởi mở về vấn đề giới tính, Đời sống & Pháp luật quyết định đi tìm sự thật của bí mật đã tồn tại gần một thế kỷ qua. Trong quá trình tìm tư liệu cho loạt bài này, chúng tôi cũng được sự giúp đỡ nhiệt tình và sự đồng tình của những người bạn văn và đặc biệt là những người thân của nhà thơ Xuân Diệu như: Đạo diễn Bạch Diệp - người vợ duy nhất; Luật sư Cù Huy Hà Vũ - người thừa kế duy nhất của nhà thơ Xuân Diệu. Việc giải mã nghi án giới tính của Xuân Diệu là để hiểu hơn về cuộc đời của một nhà thơ lớn, qua đó cảm nhận sâu hơn, hiểu đầy đủ hơn giá trị tài sản thi ca khổng lồ của "ông hoàng thơ tình Việt Nam".

 

Đường Xuân Diệu (Tây Hồ): Con đường đẹp bị xâm hại 

Đường Xuân Diệu dài khoảng 800m nối ngã ba Âu Cơ - Nghi Tàm với ngã ba Quảng An - Âu Cơ. Đường được phân luồng một chiều ô tô đi từ cầu Thăng Long về nội thành, cùng với đường Âu Cơ trở thành huyết mạch giao thông của cửa ngõ phía Tây bắc Thủ đô.

Đây còn là con đường chính dẫn vào phủ Tây Hồ, hai làng Tây Hồ và Nghi Tàm, cộng với mấy trường học của Quảng An hàng nghìn học sinh đi lại mỗi ngày. Đường chỉ rộng khoảng 4m, không có vỉa hè, một bên là hồ Tây, một bên là nhà hàng, biệt thự đua chen, nhưng có mật độ người và phương tiện qua lại rất đông. Kể từ khi dự án xây kè hồ Tây triển khai, đường Xuân Diệu trở thành nơi tập kết vật liệu xây dựng, nay kè đã hoàn thiện nhưng con đường lại không được thu dọn, vật liệu để bừa bãi, chiếm cả mặt đường.

Đặc biệt hai bên đầu kè hồ Tây tiếp giáp với đường Xuân Diệu, khi GPMB, chủ đầu tư vẫn để hai cái "lô cốt" xây dựng không theo quy hoạch, làm mất đi cảnh quan hồ Tây, vướng tầm mắt quan sát hồ Tây và người tham gia giao thông. Nơi đây còn là chỗ đổ rác thải, đống rác ngày một chất cao, tràn cả xuống hồ. Hiện tại, đường đã hẹp, vỉa hè không có, số nhà thì lộn xộn, trước cửa các nhà hàng, biệt thự ai thích lát gạch, lát đá, đổ bê tông nhô ra, thụt vào thì làm. Những cái cột điện không đồng nhất, dây dợ lằng nhằng như mạng nhện. Đoạn đường lối rẽ vào kè hồ Tây phía đầu làng Tây Hồ, còn ngổn ngang những cục bê tông chắn đường trước đây, rất bừa bãi. Vì không được quản lý, nên con đường thường xuyên ách tắc, tai nạn xảy ra như cơm bữa.

Đề nghị chính quyền địa phương phối hợp với các cơ quan chức năng sớm có những biện pháp tích cực để lập lại trật tự trên đường Xuân Diệu. Nếu chưa làm được vỉa hè, giải phóng các "lô cốt" thì cần nhanh chóng dỡ bỏ các lều lán, thu dọn các cục bê tông, bó gọn đường dây, dựng lại cột điện sắp đổ, thu dọn sạch các đống rác thải… bảo đảm giao thông và mỹ quan đô thị.

Tin, ảnh: Kiều Linh (Ngõ 31 Xuân Diệu, Tây Hồ) http://www.hanoimoi.com.vn

 

Giải mã nghi án giới tính của "ông hoàng thơ tình" Xuân Diệu

Kỳ 1: Từ những câu chuyện nửa thực nửa hư

Nghi án về giới tính của nhà thơ Xuân Diệu là một bí mật trong suốt một thập kỷ qua. Những nghi ngờ không phải không có nguyên cớ của nó. Những gì xẩy ra trong của sống của nhà thơ Xuân Diệu thủa sinh thời qua lời kể của những nhân chứng đã từng được công bố, những vần thơ "lạ" của ông đã để lại để lại cho dư luận nhiều thắc mắc.

Lời thơ mê đắm tặng người... đồng giới

Phó Viện trưởng Viện Văn học Nguyễn Đăng Điệp đánh giá Thơ mới Việt Nam chỉ có "tứ bất tử" gồm Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, và Nguyễn Bính. Nhưng trong suốt một thế kỷ qua, dường như ngai vàng của "Vua thơ tình" vẫn chỉ có một mình Xuân Diệu ngự trị. Những áng thơ tình bất hủ, những câu chữ mê đắm như: "Em bước điềm nhiên không vướng chân/Anh đi lững thững chẳng theo gần/Vô tâm - Nhưng giữa bài thơ dịu/ Anh với em như một cặp vần... Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy/Lòng anh thôi đã cưới lòng em".

Không ít người mê thơ Xuân Diệu đều mơ tưởng về người phụ nữ được thi sĩ yêu tha thiết, đắm đuối đến như vậy, hẳn sẽ là người hạnh phúc nhất nhân gian này. Đó hẳn là một trang tuyệt sắc giai nhân hoặc là một người có tâm hồn lớn lao, có trái tim yêu cùng nhịp đập với thi sĩ, được thi sĩ nâng niu, mê mải vô vàn: "Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ?/Anh tham lam, anh đòi hỏi quá nhiều. Anh biết rồi, em đã nói em yêu/Sao vẫn muốn nhắc một lời đã cũ?".

Nhưng rồi một loạt những bài thơ như "Tình trai", "Em đi"... và cả những bài thơ tình đắm đuối khác tặng người đồng giới đã khiến văn đàn Việt Nam dấy lên dấu hỏi đầy nghi ngờ về giới tính của Xuân Diệu. Và đặc biệt là sau khi cuốn hồi ký "Cát bụi chân ai" của nhà văn Tô Hoài được xuất bản năm 1993, nghi án này lại thêm một lần nữa bùng nổ. Lúc ấy, những câu hỏi về cuộc đời riêng tư của "ông hoàng thơ tình" và khơi lại câu chuyện về người đàn bà duy nhất trong cuộc đời Xuân Diệu, đó là nữ đạo diễn nổi tiếng Bạch Diệp.

Những nghi ngờ về các mối "tình trai", những mối quan hệ với người đồng giới của Xuân Diệu càng lớn hơn khi người ta biết rằng cuộc hôn nhân với người vợ duy nhất ấy chỉ kéo dài vẻn vẹn 6 tháng. Tuy nhiên, cho đến nay, thực sự chưa có một bằng chứng rõ rệt nào chứng minh về sự "đồng tính" của Xuân Diệu ngoài những lời đồn thổi và một số những mẩu chuyện được kể qua hồi ức của một số người. Dù vậy, chính từ nhiều bài thơ của Xuân Diệu đã khiến người ta không thôi đặt dấu hỏi nghi vấn.

Trong bài thơ "Ba lời cảm ơn" của Xuân Diệu vừa được công bố lần đầu tiên cách đây vài tuần có những lời thơ tình thật thắm thiết: "Cảm ơn trời đất thật tài hoa/Đưa hết tình anh với đậm đà/Đem cả bài thơ và khúc nhạc/Sắc trời hương đất tạo em ra. Cảm ơn thầy mẹ khéo nhân duyên/Sinh tạc ra em khối diệu huyền/Dáng nét làm cho anh quyến luyến/ Sáng ngời đôi mắt khiến anh điên. Lắm lúc nhìn em sững mắt anh/Cảm ơn em đã đón anh nhìn/Anh nhìn như thể rơi con mắt/Và cả thời gian cũng đứng im".

Nhà thơ Vũ Quần Phương nhận xét, giọng điệu bài thơ như là tặng cho một người phụ nữ mà Xuân Diệu yêu say đắm. Nhưng thực chất, bài thơ đó lại được Xuân Diệu chép tặng cho một người đàn ông, sau một thời gian hai người ở cùng nhau trong đại sứ quán Việt Nam ở Liên Xô (cũ). Người đàn ông đó chính là một tiến sĩ trong ngành Dầu Khí - ông Đặng Của. Theo phân tích của nhà thơ Vũ Quần Phương thì: "Thơ Xuân Diệu tặng cho đàn ông mà như viết cho phụ nữ. Cũng có thể hiểu người làm thơ phải thế, không phải cứ bê y nguyên như sự thực ngoài đời. Nhưng gần đây người ta lại bảo Xuân Diệu là người đồng tính, điều đó thì cũng chưa khẳng định được". Những ngôn từ mạnh mẽ: "Sáng ngời đôi mắt khiến anh điên.. Anh nhìn như thể rơi con mắt/Và cả thời gian cũng đứng im", tưởng như là tình yêu say đắm với một người phụ nữ, mà cuối cùng hoá ra lại chép tặng một người... đàn ông.

Niềm cảm mến vô ngần với Hoàng Cát!


Những vần thơ đầy cô đơn sau sự chia lìa: "Từ nay anh lại trên đời/Bữa cơm lại với một đôi đũa cầm/Giường kia một chiếu anh nằm/Phòng văn một bóng đăm đăm sớm chiều/Muôn ngàn cảm tạ em yêu/Chất cho anh được bao nhiêu ân tình/Cho hay anh đã để dành/Nén hương một thuở thơm thanh suốt đời/Sống bằng nhớ lại nguồn vui/Nhớ khi ôm cả đất trời cùng em". Những tưởng đó là lời thơ tạ từ, thể hiện nỗi buồn chỉ còn lại một mình thi sĩ đơn côi sau khi chia tay với người vợ duy nhất là Bạch Diệp. Nhưng sau đó, người ta lại cho rằng khúc thương tâm đó không phải dành cho Bạch Diệp, mà dành cho một người đàn ông tên Hoàng Cát. Đó là một nhà báo trẻ, điển trai rất yêu thơ Xuân Diệu và còn là người em nuôi của Xuân Diệu.

Khi Hoàng Cát đi vào chiến trường miền nam, Xuân Diệu có nhiều bài thơ tiễn Hoàng Cát, trong đó có những câu như: "Bốn năm, nhưng cũng qua mau/Cõi trần ai được ở lâu thiên đường/Giã từ, từ biệt, đôi phương/Đôi nơi, đôi ngả, đôi đường, khổ anh/Bốn năm lại khép trời xanh/Nhớ em như một mộng lành mà thôi..". Đúng là kể từ ngày họ quen nhau cho đến lúc Hoàng Cát đi chiến trường là đúng bốn năm.

Nhưng có lẽ điển hình nhất thể hiện niềm yêu mến, cảm nhớ của Xuân Diệu với Hoàng Cát là bài "Em đi" viết vào đêm ngày 11/7/1965 với đề tặng cho Hoàng Cát ở phía dưới: "Em đi, để tấm lòng son mãi/Như ánh đèn chong, như ngôi sao/Em đi, một tấm lòng lưu lại/Anh nhớ thương em, lệ muốn trào. Ôi Cát! Hôm vừa tiễn ở ga/Chưa chi ta đã phải chia xa!/Nụ cười em nở, tay em vẫy/Ôi mặt em thương như đóa hoa. Em hỡi! Đường kia vướng những gì/Mà anh mang nặng bước em đi!/Em ơi, anh thấy như anh đứng/Ôm mãi chân em chẳng chịu lìa. Nhưng bóng em đi đã khuất rồi/Đứt lìa khúc ruột của anh thôi!/Tình ta như mối dây muôn dặm/Buộc mãi đôi chân, dẫu cách vời/Em hẹn sau đây sẽ trở về/Sống cùng anh lại những say mê…/Áo chăn em gửi cho anh giữ/Xin gửi cùng em cả hẹn thề!. Một tấm lòng em sâu biết bao/Để anh thương mãi, biết làm sao!/Em đi xa cách, em ơi Cát/Em chớ buồn, nghe!Anh nhớ yêu...".

Lần đầu tiên Xuân Diệu và Hoàng Cát gặp nhau là năm 1958, khi ấy Hoàng Cát mới 17 tuổi, trâu bị lạc, anh đang chạy đi tìm thì gặp Xuân Diệu ngồi nghỉ dưới tán cây giữa cánh đồng làng anh. Lúc ấy Xuân Diệu đang trong chuyến đi thực tế về Nghệ An, tay cầm cặp bánh chưng, anh cho Hoàng Cát một cái bánh. Nhà văn Nguyễn Quang Lập trong bài viết về "Hoàng Cát- chuyện văn, chuyện đời" có ghi: "Có một người nữa khi đang vui hễ ai nhắc đến là mặt Hoàng Cát cũng đờ ra, đó là Xuân Diệu. Ai cũng biết Hoàng Cát và Xuân Diệu là anh em kết nghĩa nhưng quan hệ của họ đã vượt quá tình anh em, đạt đến cái gọi là tình yêu, có lẽ điều này thì nhiều người không biết". Sau buổi gặp gỡ trên cánh đồng làng ở khúc ruột miền trung, Hoàng Cát và Xuân Diệu trở nên thân thiết nhau. Nhà văn Nguyễn Quang Lập viết: "Từ đó anh em thân nhau, rồi yêu nhau, chính xác chỉ có Xuân Diệu yêu Hoàng Cát, còn Hoàng Cát suốt cả đời mình chỉ biết thương Xuân Diệu, thương đến vô cùng. Thương quá hóa chiều, Hoàng Cát chỉ chiều yêu Xuân Diệu mà thôi... Và Hoàng Cát khóc, nước mắt chan chứa, vừa khóc vừa đọc bài thơ Xuân Diệu viết tặng anh 45 năm về trước, ngày anh lên đường nhập ngũ. Anh nói: ầy, tau không yêu Xuân Diệu theo kiểu trai gái yêu nhau, ầy, nhưng mà tau thương, thương lắm bay nờ...". Rồi Nguyễn Quang Lập hỏi Xuân Diệu có yêu anh không thì Hoàng Cát nói yêu chớ, Xuân Diệu yêu tau thiệt mà, yêu lắm mi nờ!".

Nhưng câu chuyện nhiều bí ẩn và gây nhiều câu hỏi nhất là cuộc hôn nhân ngắn ngủi giữa nhà thơ Xuân Diệu và nữ đạo diễn Bạch Diệp. Họ đã rất hạnh phúc nhưng bất ngờ chia tay chỉ sau 6 tháng mà không rõ nguyên nhân...

Lã Xưa - doisongphapluat.com.vn

 

Xuân Diệu là một nhà thơ lớn. Nhiều người đã viết về ông và nhiều nhất là về thơ tình của ông. Nhưng trong thơ tình của Xuân Diệu, những đối tượng nào được ông yêu thì hình như chưa có ai bàn đến. Trong khi, đó lại chính là điểm hứa hẹn nhiều chuyện thú vị.

Chúng ta nên biết là suốt đời Xuân Diệu không có vợ, không có con. Ông sống độc thân cho đến lúc mất, vào năm 1985, lúc 69 tuổi. Trong bài 'Khung cửa sổ', Xuân Diệu tả cuộc sống của mình như sau:
Anh có nhà, có cửa
Nhưng không vợ, không con
Sợ cái bếp không lửa
Sợ cái cửa không đèn.
 
Những đêm đi xa về
Tận xa nhìn cửa đóng
Không ánh sáng đón mình
Chẳng có ai trông ngóng.

Cảm giác ngậm ngùi mỗi lần nói đến chuyện tình yêu đã xuất hiện trong thơ Xuân Diệu ngay trước năm 1945, lúc Xuân Diệu còn là một thanh niên. Lúc đó, khi nhìn những người đẹp, ông đã chua chát tự nhủ thầm:
Ta thấy em xinh khẽ lắc đầu
Bởi vì ta có được em đâu.
Cũng có khi ông trách móc:
Lòng ta là một cơn mưa lũ
Đã gặp lòng em là lá khoai.
Mưa biếc tha hồ tuôn giọt ngọc
Lá khoai không ướt đến da ngoài.

Những cảm giác như vậy xuất hiện nhiều lần trong thơ Xuân Diệu. Có thể nói là mặc dù rất đa tình, Xuân Diệu ít khi được thoả mãn. Lý do chính của tình trạng này có thể làm nhiều người kinh ngạc: Xuân Diệu là một người đồng tính luyến ái.

Ở Hà Nội, trong giới quen biết với Xuân Diệu, hình như đã có nhiều người biết chuyện này. Tuy nhiên, ít ai dám công khai nói ra, có lẽ vì sợ cái uy thế của Xuân Diệu và của Huy Cận. Người đầu tiên dám đề cập đến chuyện này một cách công khai chính là Tô Hoài trong cuốn Cát bụi chân ai xuất bản năm 1993 tại Hà Nội. Tô Hoài kể, trước năm 1945, ông được gặp Xuân Diệu vài lần, lần nào cũng diễn ra cái cảnh:
Xuân Diệu và Huy Cận lên Nghĩa Đô, ở chơi cả buổi và ăn cơm. Dịu dàng, âu yếm, Xuân Diệu cầm cổ tay tôi, nắm chặt rồi vuốt lên vuốt xuống. Bốn mắt nhìn nhau đắm đuối. Xuân Diệu gắp thức ăn cho tôi. Cử chỉ thân thiết quá, hơi lạ với tôi, nhưng mà tôi cảm động. Tôi sướng mắt nhìn tập thơ Thơ thơ khổ rộng nhà in Trung Bắc phố Hàng Buồm. Hai chữ Xuân Diệu nét chì sắc gọn, không phải chữ gỗ dẹp đét.
Thỉnh thoảng, Xuân Diệu lại lên nhà tôi. Vẫn nắm tay cả buổi, nhìn tha thiết. Xuân Diệu yêu tôi. (tr. 168-69)

Cũng trong cuốn hồi ký này, Tô Hoài kể là trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, lúc ở căn cứ Việt Bắc, hằng đêm Xuân Diệu hay sang giường các bạn trai của ông để tỏ tình, âu yếm. Các bạn trai của ông rất sợ, vì vậy cứ đêm đến là họ...đi tị nạn sang các nhà khác, không ai dám ở chung với Xuân Diệu:
Mọi công việc cơ quan lặng lẽ, nhưng cứ tối đến thì nháo lên, nháo lên một cách âm thầm. Các chàng trai trẻ vào ngủ lang trong xóm. Thằng Đại trắng trẻo, mũm mĩm thì biến là phải. Nhưng cả thằng Nghiêm Bình cao to hiên ngang thế, tối cũng lẳng lặng vác cái ghi ta đi. Bốn bên lặng lẽ như tờ. (tr. 171)

Mặc dù Tô Hoài đã được Xuân Diệu vuốt tay và nhìn đắm đuối trước năm 1945 như ông đã kể, nhưng hình như ông cũng chưa hiểu hết mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Cho nên đêm đầu tiên ghé lại khu văn nghệ sĩ ở căn cứ địa Việt Bắc, ông đã an nhiên ngủ lại trong căn nhà này chung với Xuân Diệu. Nửa đêm, lúc ông đang ngủ mê, thì:
Bàn tay ma ở đâu sờ vào. Không phải. Tay người, bàn tay người đầy đặn, ấm ấm. Hai bàn tay mềm mại xoa lên mặt lên cổ rồi xuống dần xuống dần [...].
Trời rạng sáng. Xuân Diệu trở về màn mình lúc nào không biết. Tôi he hé mắt nhớ lại những hứng thú khủng khiếp. Những cảm giác nồng nàn kích thích trong bóng tối đã trơ ra khi sáng bạch. Tôi chạy xuống cánh đồng giữa mưa. (tr. 170)

Cuối cùng, khi chuyện vỡ lỡ, tổ chức đem Xuân Diệu ra kiểm thảo. Tô Hoài viết tiếp:
Cuộc kiểm điểm Xuân Diệu kéo dài hai tối. Hồi ấy chưa biết phương pháp chỉnh huấn, nhưng hàng ngày chúng tôi làm việc giờ giấc nghiêm ngặt, mỗi tổ buổi chiều trước giờ tăng gia lại hội ý rút kinh nghiệm, hướng sửa chữa và công việc ngày mai của từng người. Cả cơ quan họp đến khuya. Chỉ có ông Phan Khôi lên buồng vẫn mắc màn sẵn đi ngủ từ chặp tối, bỏ ngoài tai mọi việc.
Xuân Diệu chỉ ngồi khóc, chẳng biết Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Trọng Hứa, Nguyễn Văn Mãi, cả lão Hiến, thằng Nghiêm Bình, thằng Đại và mấy thằng nữa, có ai ngủ với Xuân Diệu không, nhưng cũng không ai nói ra. Tôi cũng câm như hến. Lúc rồ lên, trong đêm tối quyến rũ, mình cũng điên kia mà. Không nói cụ thể việc ấy, nhưng ai cũng to tiếng gay gắt “tư tưởng tư sản, phải chừa đi.” Xuân Diệu nức nở “tình trai của tôi... tình trai” rồi nghẹn lời, nước mắt lại ứa ra.
Ít lâu sau, trong một cuộc họp ban chấp hành, Xuân Diệu bị đưa ra khỏi ban thường vụ. Và cũng thành một cái nếp kéo dài, từ đấy không ai nhắc nhở đến những việc chủ chốt trước kia Xuân Diệu đã phụ trách. Bỗng dưng, Xuân Diệu thành một người hiếm thì giờ chỉ chuyên đi viết. Mà Xuân Diệu cũng tự xa lánh mọi công tác. (tr. 171-2)

Đó là chuyện ngoài đời. Chuyện này tuy có thể thoả mãn óc tò mò của chúng ta, tuy nhiên nó lại không đáng bàn và cũng không nên bàn nhiều. Dù sao nó cũng là chuyện riêng tư và chúng ta có bổn phận phải tôn trọng chuyện riêng tư đó. Điều đáng nói hơn là chúng ta thử tìm những biểu hiện đồng tính luyến ái trong thơ của Xuân Diệu.

Trong đoạn hồi ký trên, Tô Hoài có nhắc đến chi tiết: Xuân Diệu nức nở nói về 'tình trai' của mình. Tình trai là tình giữa hai người con trai với nhau. Chữ 'tình trai' gợi cho chúng ta nhớ, trong tập Thơ thơ, tác phẩm đầu tay xuất bản năm 1938 của Xuân Diệu, có một bài thơ nhan đề là ‘Tình trai’ như sau:
Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine
Hai chàng thi sĩ choáng hơi men
Say thơ xa lạ, mê tình bạn
Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen.
...
Kể chi chuyện trước với ngày sau
Quên ngó môi son với áo màu
Thây kệ thiên đường và địa ngục
Không hề mặc cả, họ yêu nhau.

Bài thơ viết về chuyện hai nhà thơ Rimbaud và Verlaine của Pháp nhưng qua đó ngụ ý của Xuân Diệu là nói đến chuyện của mình. Yêu bạn trai, ông quên cả chuyện “ngó môi son với áo màu”, tức là phụ nữ. Mối tình trai này tha thiết đến độ “Thây kệ thiên đường và địa ngục / Không hề mặc cả, họ yêu nhau.”

Cũng trước năm 45, Xuân Diệu có bài thơ nhan đề là ‘Tặng bạn bây giờ’:
Ta biết ngày mai em có vợ
Đi làm hai bữa, tối về thăm
Cơm xong, chén nước chờ bên cạnh;
Em bế thằng con được mấy năm.
 
Chỉ mấy năm thôi, đủ phận chồng
Chàng trai tơ mởn đã thành ông
Không còn mộng dễ ngày tươi trẻ
Mắt sáng phai rồi, má hóp không.
 
Em ngồi trông vợ thấy nàng tiên
Là một người thôi, mộng hão huyền
Ta bước bên đường kêu gọi mãi
Nhớ người bạn cũ thuở anh niên.
 
Em nghe tê tái dưới hàng mi
Tiếc thuở say nồng, nhớ bạn si
Khép mắt buồn xa, em sẽ bảo:
- Có chàng Xuân Diệu thuở xưa kia...

Từ trước đến nay, đọc bài thơ trên, ít ai chú ý đó là bài thơ tả mối tình của một người đồng tính luyến ái. Người được tác giả gọi bằng em một cách tha thiết lại là một người con trai. Nhà thơ yêu người con trai đó và ghen tức trước viễn tượng là một ngày kia người con trai sẽ lấy vợ “Ta biết ngày mai em có vợ.”

Sau này, có thời gian Xuân Diệu sống hẳn với một thanh niên tên là Hoàng Cát. Ông làm bài ‘Đời anh em đã đi qua’ tả lại quãng đời hạnh phúc này:
Đời anh em đã đi qua
Sáng thơm như một luồng hoa giữa đời
Hiểu làm sao hết, em ơi
Bốn năm kỳ diệu đất trời nhờ em
Ngôi nhà, cánh cổng, trái tim
Khóm cây, con mắt ngày đêm đón mừng.
 
Em đi, anh ngóng trông chừng
Anh về, miệng đã gọi lừng: em ơi !
Bữa ăn thành một hội vui
Có em gắp với, rau thôi cũng tình
Cảnh thường cũng hoá ra xinh
Có em, anh hết nghĩ mình bơ vơ ...

Khi Hoàng Cát đi bộ đội rồi phải rời Hà Nội vào chiến trường miền Nam, Xuân Diệu làm bài thơ đưa tiễn đầy nước mắt nhan đề là ‘Em đi’ với lời đề “Tặng Hoàng Cát” như sau:
Em đi, để tấm lòng son mãi
Như ánh đèn chong, như ngôi sao.
Em đi, một tấm lòng lưu lại
Anh nhớ thương em, lệ muốn trào.
 
Ôi Cát! Hôm vừa tiễn ở ga
Chưa chi ta đã phải chia xa !
Nụ cười em nở, tay em vẫy
Ôi mặt em thương như đoá hoa.
 
Em hỡi! Đường kia vướng những gì
Mà anh mang nặng bước em đi
Em ơi, anh thấy như anh đứng
Ôm mãi chân em chẳng chịu lìa.
 
Nhưng bóng em đi khuất rồi,
Đứa lìa khúc ruột của anh thôi!
Tình ta như mối dây muôn dặm
Buộc mãi đôi chân, dẫu cách vời.
 
Em hẹn sau đây sẽ trở về
Sống cùng anh lại những say mê
Aùo chăn em gửi cho anh giữ
Xin gửi cùng em cả hẹn thề!
 
Một tấm lòng em sâu biết bao
Để anh thương mãi, biết làm sao!
Em đi xa cách, em ơi Cát
Em chớ buồn, nghe! Anh nhớ, yêu...
(Đêm 11/7/1965, 23 giờ 30)

Hoàng Cát đi rồi, Xuân Diệu buồn vô cùng. Trong bài ‘Đời anh em đã đi qua’, còn có một đoạn cuối nói đến nỗi buồn trống vắng người yêu của Xuân Diệu:
Từ đây anh lại trong đời
Bữa ăn ngồi với một đôi đũa cầm
Giường kia một bóng anh nằm
Phòng văn một sách đăm đăm sớm chiều.

Xin nhắc lại là Hoàng Cát, người được Xuân Diệu gọi là 'em', em Cát,người em có khuôn mặt như đoá hoa, là một người con trai. Và chúng ta thấy, dù người yêu là con trai thì tình cảm của Xuân Diệu vẫn dạt dào và nồng cháy. Nếu chúng ta đừng để ý đến chuyện đồng tính luyến ái của nhà thơ thì đây là một bài thơ tình rất mực đằm thắm. Nó góp một tiếng nói tương đối đẹp vào kho tàng thơ tình vô cùng giàu có của Xuân Diệu.



Một vấn đề khác cũng rất quan trọng là: ai cũng biết người bạn thân nhất của Xuân Diệu là Huy Cận. Chúng ta không thể không thắc mắc: nếu Xuân Diệu là người đồng tính luyến ái, vậy thì Huy Cận là người như thế nào?

Chúng ta nên biết là Huy Cận có hai đời vợ, mà người vợ trước không ai khác hơn là chính em gái ruột của Xuân Diệu. Tuy nhiên, cái chuyện Huy Cận có vợ, một hay hai đời vợ cũng vậy, không có ảnh hưởng gì đến cái kết luận có thể có: ông cũng là một người đồng tính luyến ái, hoặc ít nhất là lưỡng tính luyến ái (bisexual).

Một điều nữa chúng ta cũng cần biết là suốt đời, lúc nào Xuân Diệu và Huy Cận cũng ở bên nhau, như hình với bóng. Từ giữa thập niên 30, họ đã chơi thân với nhau, khi cả hai còn là học sinh trung học. Lúc nào họ cũng cặp kè bên nhau. Trừ khoảng thời gian Xuân Diệu phải đi làm việc ở Mỹ Thọ, họ sống chung với nhau một nhà. Có thời gian, từ năm 1939 đến 1940, Xuân Diệu và Huy Cận sống tại số 40 phố Hàng Than, Hà Nội. Hai người sống trên gác, phía dưới là vợ chồng nhà thơ Lưu Trọng Lư. Rồi đến thời kháng chiến chống Pháp, họ cũng quanh quẩn với nhau ở chiến khu Việt Bắc. Sau năm 1954, họ sống với nhau trong căn nhà ở số 24 Cột Cờ, sau đó đổi thành đường Điện Biên Phủ ở Hà Nội. Huy Cận và vợ con ở trên gác, Xuân Diệu sống phía dưới. Trong một bài thơ, Huy Cận tả:
Đêm đêm trên gác chong đèn
Cận ngồi cặm cụi viết dòng thơ bay
Dưới nhà bút chẳng ngừng tay
Bên bàn Diệu cũng miệt mài trang thơ
Bạn từ lúc tuổi còn thơ
Hai ta hạt chín chung mùa nắng trong
Ánh đèn trên gác, dưới phòng
Cũng là đôi kén nằm trong kén trời
Sáng ra gõ cửa: “Diệu ơi,
Nghe dùm thơ viết đêm rồi xem sao”.
Diệu còn ngái ngủ: “Đọc mau!
Nghe rồi, xem lại từng câu mới tường”.
Dưới nhà trên gác thông thương
Dòng thơ không dứt giữa luồng tháng năm...

Trong bài thơ, Huy Cận dùng chữ ‘hai ta’, ‘Hai ta hạt chín chung mùa nắng trong’. Người Việt Nam không ai dùng chữ ‘hai ta’ hay ‘đôi ta’ để chỉ hai người bạn cùng phái. Cách xưng hô như vậy rất lạ. Trong bài ‘Nửa thế kỷ tình bạn’ in trong tập Xuân Diệu, con người và tác phẩm xuất bản tại Hà Nội năm 1987, Huy Cận kể tỉ mỉ hơn về mối quan hệ giữa ‘hai ta’ đó như sau:
Tựu trường năm 1936, chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên ở trường tú tài Khải Định, Huế. Anh Diệu học năm thứ ba, tôi vào học năm thứ nhất. Hai đứa đọc thơ cho nhau nghe, và ‘đồng thanh tương ứng’, kết bạn với nhau gần như tức khắc... Tựu trường 1937, anh Diệu ra Hà Nội học trường Luật và viết báo Ngày nay, tôi học năm thứ hai ban tú tài... Anh Diệu và tôi viết thư cho nhau hàng tuần... Năm 1938, tôi ra sống với Diệu ở chân đê Yên Phụ. Ở đó Diệu viết ‘Truyện cái giường’, một số bài thơ, còn tôi thì viết ‘Buồn đêm mưa’, ‘Trông lên’, ‘Đi giữa đường thơm’ và mấy bài khác... Tựu trường năm 1939,... hai chúng tôi cùng sống ở gác 40 phố Hàng Than, Hà Nội... Cuối năm 1940, Diệu đi làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho... Chúng tôi tạm sống xa nhau, buồn đứt ruột, hàng tuần viết thư cho nhau, có tuần hai, ba lá thư... Hè 1942, tôi đậu kỹ sư canh nông và cuối năm bắt đầu đi làm ở Sở nghiên cứu tầm tang. Diệu điện hỏi tôi: ‘Diệu từ chức được chưa?’, tôi điện trả lời: ‘Từ chức ngay! Về ngay Hà Nội!’. Chúng tôi sống trên gác Hàng Bông (số nhà 61), tiếp tục làm thơ.

Xuân Diệu và Huy Cận sống với nhau, gắn bó với nhau đến nỗi nhà xuất bản họ lập ra hồi đó cũng mang tên là Huy-Xuân, tức là ghép hai chữ đầu của tên hai người lại với nhau, như tên của một tình nhân hay một cặp vợ chồng trẻ. Rồi trong bài ‘Mai sau’, Huy Cận lại giới thiệu Xuân Diệu như người bạn thân thiết, hay đúng hơn, như một tình nhân thân thiết của mình:
Người ta bảo bà mẹ chàng hay khóc
Chia gia tài cho con quí: lệ đau
Chàng là con một bà mẹ hay sầu
Nên trọn kiếp mắt chàng thường đẫm lệ
[...]
Chiều nay đây nửa thế kỷ hai mươi
Viết dăm câu tôi gửi lại vài người
Những thế hệ mai sau, làm bè bạn
Hỡi ai đó, có nhớ lòng Huy Cận
Gọi gió trăng mà thỏ thẻ lời trên
Rất thương yêu, xin nhớ gọi giùm tên
Rất an ủi của bạn chàng: Xuân Diệu.

Bài thơ trên đã công khai bày tỏ tình cảm của Huy Cận đối với Xuân Diệu. Ngoài ra, bài ‘Vạn lý tình’ rất nổi tiếng của Huy Cận cũng hé lộ một số chi tiết rất đáng chú ý:
Người ở bên này, ta ở đây
Chờ mong phương nọ, ngóng phương này
Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm
Vạn lý sầu lên núi tiếp mây
Nắng đã xế về bên xứ bạn
Chiều mưa trên bãi, nước sông đầy
Trông vời bốn phía không nguôi nhớ
Dơi động hoàng hôn thấp thoáng bay
Cơn gió hiu hiu buồn tiễn biệt
Xa nhau chỉ biết nhớ vơi ngày
Chiếu chăn không ấm người nằm một
Thương bạn chiều ôm, sầu gối tay.

Chi tiết đáng chú ý nhất chính là chữ ‘bạn’ được lặp lại hai lần trong bài thơ, trong câu ‘Nắng đã xế về bên xứ bạn’ và câu ‘Thương bạn chiều hôm, sầu gối tay’. ‘Bạn’ chứ không phải là người yêu. Chúng ta nhớ lại sự kiện khi Xuân Diệu phải đi làm việc ở Mỹ Tho, Huy Cận sống ở Hà Nội, và lời kể của Huy Cận: "Hai đứa phải sống xa nhau, buồn đứt ruột." Một chi tiết khác quan trọng không kém, đó là câu 'Chiếu chăn không ấm người nằm một'. Lúc này Huy Cận còn là học trò, chưa lập gia đình, chưa có vợ con. Người nằm chung chăn, chung chiếu với ông không phải là vợ ông, mà chính là người bạn trai của ông. Điều này sẽ rõ hơn, thuyết phục hơn, khi chúng ta đọc thêm bài ‘Ngủ chung’ cũng của Huy Cận, in trong tập Lửa Thiêng, xuất bản năm 1940:
Ôi rét đêm nay mấy học trò
Ngủ chung giường hẹp, trốn bơ vơ
Cô hồn vạn thuở buồn đơn chiếc
Có lẽ đêm nay cũng ngủ nhờ.
Lạnh lùng biết mấy tấm thân xương!
Ân ái xưa kia kiếp ngủ giường.
Đâu nữa tay choàng làm gối ấm,
Còn đâu đôi lứa chuyện canh sương
Trốn tránh bơ vơ, chạy ngủ lang,
Hồn ơi! có nhớ giấc trần gian
Nệm là hơi thở, da: chăn ấm,
Xương cọ vào xương bớt nỗi hàn?

Bài thơ tả cảnh ngủ chung của học trò cùng phái tính, giữa những người bạn trai với nhau. Ở Việt Nam, đó là chuyện bình thường. Nhưng chúng ta hãy để ý kỹ: cả ngôn ngữ lẫn cảm xúc trong bài thơ này lại thấp thoáng những dấu hiệu không bình thường, chẳng hạn như chuyện ‘ân ái’: 'Ân ái xưa kia kiếp ngủ giường'; rồi ‘đôi lứa’: 'Còn đâu đôi lứa chuyệän canh sương', Rồi chuyện ‘nệm là hơi thở’, ‘da là chăn ấm’, rồi chuyện ‘xương cọ vào xương’, v.v... Đọc kỹ bài thơ, chúng ta thấy ngay tính chất không bình thường của nó. Có lẽ, cùng với bài ‘Tình trai’ và bài ‘Em đi’ của Xuân Diệu, bài ‘Ngủ chung’ này của Huy Cận là những bài thơ tiêu biểu nhất cho chuyện đồng tính luyến ái trong thơ Việt Nam.

 

Ngày 18-12-1985, đã vĩnh biệt chúng ta nhà thơ Xuân Diệu, một nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ 20. Quê ở Hà Tĩnh, ông đã từng học ở Qui Nhơn, Huế, Hà Nội. Xuân Diệu là thành viên của Tự lực văn đoàn, văn đoàn có đóng góp lớn vào nền văn học Việt Nam hiện đại. Là nhà thơ trữ tình, Xuân Diệu đã là một trong những chủ soái của phong trào "Thơ Mới". Xuân Diệu "nhà thơ mới nhất" của các nhà thơ mới (Hoài Thanh). Hai tập "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió" được giới văn học xem như là hai kiệt tác của ông ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi sự sống, niềm vui và đam mê sống. Và ca ngợi tình yêu thì làm sao mà không ca ngợi tuổi trẻ, mùa xuân, ca ngợi thiên nhiên là tổ ấm và cái nôi của tình yêu. Và Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc đến đau đớn nỗi thời gian trôi chảy, sự mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cửu, tất cả đã được diễn tả bằng những câu thơ xúc động, có khi đậm đà triết lý nhân sinh.
Là một nhà thơ dấn thân, Xuân Diệu đã tham gia hàng chục năm trời (từ 1943) cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, và đã trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng. Ba lô trên lưng, Xuân Diệu đã đi khắp đất nước qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, chia sẻ cuộc sống gian khổ mà hào hùng của chiến sĩ, công nhân và nông dân. Từ cuộc sống dấn thân ấy đã hình thành một cảm xúc mới: cảm xúc của cả dân tộc chiến đấu cho độc lập, tự do - Và dòng thơ "công dân" ấy vẫn chan chứa chất thơ vì không hề gạt ra một bên những kích thước người của một cảm hứng thơ chân chính. Những bài thơ như "Sự sống chẳng bao giờ chán nản", "Những đêm hành quân" thuộc vào dòng thơ của chủ nghĩa nhân bản mới của thời đại.
Và nhà thơ - chiến sĩ vẫn tiếp tục là nhà thơ thần diệu của tình yêu. Vĩnh biệt chúng ta, Xuân Diệu còn để lại trong di cảo 400 (bốn trăm) bài thơ tình chưa công bố. Là nhà văn hóa lớn, nhà nghiên cứu bậc thầy, nhà phê bình sâu sắc và tinh tế, Xuân Diệu một mình, đã viết một công trình đồ sộ nghiên cứu hết các nhà thơ cổ điển của nước nhà, và những nhận định của ông cũng đã trở thành "cổ điển".
Xuân Diệu còn là tác giả tập "Phấn thông vàng" gồm những truyện ngắn trữ tình tuyệt diệu, tập "Trường ca" là những bài thơ văn xuôi xúc động về tạo vật, về tình đời.
Xuân Diệu còn viết nhiều sách về nghề thơ, hướng dẫn và tận tình giúp đỡ các bạn văn thơ trẻ. Xuân Diệu đã dịch tác phẩm của nhiều nhà thơ thế giới lỗi lạc - Victor Hugo, Petofi, Nazim Hikmet, Nicolas Grillen, Tagore, Attila, Joseph, Christo Botev, Endy, Blaga Dimitrova... Với một sự nghiệp phong phú, đồ sộ (hơn năm mươi tác phẩm), Xuân Diệu chắc chắn sẽ được hậu thế công nhận là một trong những đỉnh cao của thơ và văn chương Việt Nam thế kỷ 20.
Tác phẩm đã xuất bản:
Thơ: Thơ thơ , (1938) tái bản nhiều lần; Gửi hương cho gió (1945-1967), Ngọn Quốc kỳ (1945-1961), Hội nghị non sông (1946), Dưới sao vàng (1949), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau - Cầm tay (1962) Một khối hồng (1964) Hai đợt sóng (1967) Tôi giầu đôi mắt (1970) Hồn tôi đôi cánh (1976) Thanh ca (1982), Một chùm thơ (tuyển, Paris, 1983), Tuyển tập Xuân Diệu tập I (1982-1986)
Văn xuôi: Phấn thông vàng (1939 – 1967), Trường ca (1945 – 1957) Miền Nam nước Việt (1945), Việt Nam nghìn dặm (1946), Việt Nam trở dạ (1948) Ký sự thăm nước Hung (1956), Triều lên (1958)
Tiểu luận phê bình: Thanh niên với quốc văn (1945), Những bước đường tư tưởng của tôi (1958), Dao có mài mới sắc (1963), Và cây đời mãi mãi xanh tươi (1971) Lượng thông tin và những ký sự tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, 2 tập (1981-1982), Thơ Nicôlai Ghiden (1982), Những nhà thơ Bungari (1985)…


Tên thật là Ngô Xuân Diệu, sinh ngày 2 tháng 2 năm 1916 tại Tuy Phước, tỉnh Bình Định cũ, nơi cha là Ngô Xuân Thọ vào dạy học và kết duyên với mẹ là Nguyễn Thị Hiệp.

Xuân Diệu sau ra Hà Nội học; 1938-1940 ông và Huy Cận ở gác 40 Hàng Than. Ông tốt nghiệp kỹ sư canh nông năm 1943.

Ông mất ngày 18 tháng 12 năm 1985.

"Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi ..."

Xuân Diệu viết nhiều, có khoảng 450 bài thơ. Một số lớn chưa được xuất bản. Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Thơ Thơ 1938), Gửi Hương Cho Gió (1945), Ngọn Quốc Kỳ (1945), Một Khối Hồng (1964), Thanh Ca (1982), Tuyển Tập Xuân Diệu (1983); truyện ngắn Phấn Thông Vàng (1939); và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học.

Xuân Diệu là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ Mới. Ông mang ngọn gió rạo rực, thiết tha, nồng cháy, khao khát yêu thương đến cho thi ca. Thơ Xuân Diệu là "vườn mơn trớn", ca ngợi tình yêu bằng muôn sắc điệu, âm thanh và hương vị trong Thơ Thơ, pha lẫn chút vị đắng cay trong Gửi Hương Cho Gió. Nhiều câu nhiều bài chịu ảnh hưởng từ thi ca lãng mạn Pháp.

Báo Đồng Khởi điện tử xin trân trọng giới thiệu một trong những bài thơ hay của nhà thơ Xuân Diệu

Cây đời mãi mãi xanh tươi
Xuân Diệu
Mọi lí thuyết đều màu xám
Và cây đời vĩnh viễn xanh tươi
(Câu của Goethe)

Vĩnh viễn chim ca, vĩnh viễn nắng cười
Vĩnh viễn anh yêu em, như yêu sự thật
Và cây đời mãi mãi xanh tươi
Mãi mãi em ơi
Cây đời trĩu trái
Gió trong lá mùa thu rồi trở lại
Rì rào đôi ta tình ái muôn đời
Trong mắt đen em mãi mãi ánh trời
Ngời qua một sợi tóc buông rũ trán
Mãi mãi môi em nhuỵ đời vô hạn
Và cây đời ôi! Xán lạn xanh tươi
     
# NO (theo Trang thơ Việt Nam)




Nhà thơ Xuân Diệu: Chuyện lạ để đời
17:55:00 08/02/2009
Phạm Khải
Trong số các nhà thơ nổi danh thời tiền chiến, Xuân Diệu là người tôi có cơ may được gặp sớm hơn cả. Sớm, nhưng thời gian lại quá ngắn ngủi, bởi chỉ hơn một năm sau, ông đã từ giã cõi đời. Tuy nhiên, trong qua trình tiếp xúc, nghe ông nói, hoặc qua những câu chuyện mà các bậc đàn em trong làng thơ của ông kể lại, tôi cũng có được một số "vốn liếng" nhất định về chuyện đời và chuyện nghề của ông. Đầu xuân, xin được chắp nối đôi dòng mua vui cùng bạn đọc...

Xuất xứ của bài "Yêu"

Trong sự nghiệp thơ ca của Xuân Diệu, bài "Yêu" có một vị trí khá đặc biệt. Nó không phải là bài thơ "bề thế", song lại được phổ biến rộng rãi bởi đã nói được những khoảnh khắc tâm tình rất riêng của các bạn trẻ.

Về xuất xứ của bài thơ này, Xuân Diệu kể: Bấy giờ ông chỉ mới chừng 19, 20 tuổi. Một buổi trưa, nhân lúc ra trông hàng cho mẹ (vốn là một cô hàng nước mắm), phải cái thời khắc vắng vẻ, chợ búa ít người qua lại, Xuân Diệu mới tìm cách trêu ghẹo cô bán hàng bên cạnh. Cô này thấy chàng làm thơ đã chớm nổi tiếng thì giả bộ mê mải đọc sách. Xuân Diệu vờ buông lơi một câu (mà ông lấy ý của thơ Pháp) để "thăm dò":

Yêu là chết ở trong lòng một ít

Không ngờ cô bán hàng bỏ sách xuống, nguýt chàng thi sĩ "ỡm ờ" này một cái rõ dài, rồi bĩu môi, cao giọng:

Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu

Như được "nối điêu", Xuân Diệu hứng khởi hẳn lên. Ông tiếp luôn:

Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết

Mặc dù mối liên quan giữa chàng thi sĩ với cô gái trẻ cũng chỉ dừng lại ở chuyện đối đáp thơ, song đó chính lại là xuất xứ của khổ đầu bài "Yêu" - một bài thơ tình nổi tiếng của Xuân Diệu.

Hay như thơ Muyxê

Sinh thời, nếu như ai đó ca tụng nhà thơ Xuân Diệu rằng, thơ của ông hay như thơ ông này ông nọ ở nước ngoài, thì chắc nhà thơ cũng chỉ cảm thấy hài lòng, vì như vậy là người ta biết... phải đạo với mình. Chứ thực ra ông biết nói như vậy là khập khiễng. Làm sao có thể so sánh loại thơ được đọc trên văn bản với loại thơ đọc qua bản dịch, mà nhiều khi chỉ còn là bản dịch nghĩa!

Chính vì thế mà Xuân Diệu rất lấy làm thích thú - điều này ông đã từng đem "khoe" trong một cuộc nói chuyện trước công chúng ba tháng trước ngày ông mất - ấy là việc một cô gái Việt kiều sống ở Pháp trong một lần gặp gỡ nhà thơ tại Trường Đại học Xoócbon (thủ đô Pari) đã cho rằng thơ của ông hay không kém gì thơ Anphrêt đờ Muyxê, nhà thơ Pháp nổi tiếng thế kỷ XIX.

Điều mà Xuân Diệu thấy thỏa đáng là cô gái này đọc thơ bằng hai ngữ. Cô đọc thơ Muyxê bằng tiếng Pháp trong giáo trình cô học. Còn thơ Xuân Diệu cô đọc bằng tiếng mẹ đẻ, tức tiếng Việt. Sau nữa, Muyxê là nhà thơ mà khi còn trẻ Xuân Diệu đã từng ngưỡng mộ- người được thanh niên Pháp suy tôn là "Nhà thơ của tuổi trẻ và tình yêu". Xuân Diệu rất muốn có vị trí như của Muyxê trong thanh niên Việt Nam.

Không tiếc thuốc lá, chỉ tiếc thời gian

Những lần đến thăm Xuân Diệu, nhà thơ Trần Ninh Hồ thường để ý thấy ông hay rút từ một bao thuốc lá nguyên khi thì một điếu, lúc thì hai điếu, đặt lên chiếc đĩa trước mặt khách (mà ít khi là cả bao). Dường như đoán được ý nghĩ của nhà thơ trẻ (không ngờ một nhà thơ lớn mà lại ki đến vậy), khi tiễn Trần Ninh Hồ ra cổng, Xuân Diệu dúi bao thuốc vào túi anh, nói nhỏ:

- Anh cho em bao thuốc về mà hút.

Rồi ông phân giải:

- Anh  là người rất quý thời giờ. Thời giờ nó cũng như tấm vải vậy. Để nguyên mấy mét thì may được sơ mi, áo dài, mà cũng ngần ấy vải, đem cắt nhỏ ra thì chỉ may được mùi soa. Sở dĩ anh không đặt cả bao thuốc ra đấy vì đó là chủ ý của anh. Một điếu có nghĩa là khách chỉ nên ngồi 5 phút thôi. Mà hai điếu thì có nghĩa là 10 phút. Anh đặt cả bao ra đấy, nhỡ có người sẵn thuốc ngồi dai thì sao. Thuốc thì anh không thiếu, nhưng anh thiếu thời gian. Bây giờ anh đã sắp đến cái tuổi "cổ lai hy" rồi còn gì.

Xuân Diệu "tiên tri"...

Nhà thơ Hoàng Cát là người từng được Xuân Diệu yêu quý, nhận là em kết nghĩa và nuôi cho ăn học. Hoàng Cát kể: Lần ấy, sau khi đưa tiễn anh gia nhập quân đội, từ một sân ga trở về, Xuân Diệu đã xúc động viết bài "Em đi...", một bài thơ chẳng khác gì thơ tình yêu chia ly, đầy bịn rịn và thương cảm (bài này đã được in lần đầu trên báo Nhân Dân số Tết năm 1989).

Giờ đây, sau mấy chục năm, đọc lại, Hoàng Cát chợt "phát hiện" và tỏ ra hết sức bái phục sự "tiên tri" của Xuân Diệu. Thì ra trong bài thơ có một chi tiết đáng chú ý, ấy là câu: Ôm mãi chân em chẳng muốn về (em ở đây tức là Hoàng Cát, ý Xuân Diệu muốn nói đến sự quyến luyến, không muốn chia xa).

Hoàng Cát cho rằng, nhà thơ đàn anh đã nhấn mạnh đến chi tiết cái chân của mình dến độ phải: Ôm mãi chân em chẳng muốn về, là ông đã nghĩ đến chuyện chân của mình sau này sẽ không còn. Và Xuân Diệu đã đoán định "chính xác" làm sao! Vì rằng năm ấy, từ chiến trường trở về, Hoàng Cát đã trở thành một anh thương binh với một bên chân giả.

và "ngụy biện"

Lần ấy, nhân đọc tập thơ Xuân Diệu mới tặng, nhà thơ Quang Huy có một phát hiện khá thú vị. Anh cho rằng, thông thường ở một khổ thơ bốn câu, thì câu hay nhất bao giờ cũng là câu thứ tư, và câu thường nhất là câu thứ ba, vốn có tính chất như câu đệm, câu lấy đà.

Với ý nghĩ như vậy, một lần, trong Hội nghị viết văn trẻ, anh tìm đến trao đổi với Xuân Diệu và đem nhận xét ấy "ứng dụng" vào một khổ thơ nọ của ông. Nhưng Quang Huy mới chỉ chê khéo một chút thôi, Xuân Diệu đã vội lấp ngay. Ông biện luận:

- Thì nó cũng như cây hoa. Ngọn đẹp, lá đẹp, bông đẹp thì cũng phải "chừa" ra một chỗ cho người ta cầm tặng người yêu chứ. Câu thơ thứ ba của tớ cũng là một câu như thế...


Nhà thơ Xuân Diệu

Saturday, 12. July 2008, 09:48:28

Riêng còn không có

Xuân Sách viết: Một lần tôi gặp Xuân Diệu trong quán bia hơi, tôi nâng cốc bia đến chúc mừng ông vừa được bầu làm viện sĩ của Viện Hàn lâm nghệ thuật nước CHDC Đức, ông chạm cốc: “Chúc mừng họ Ngô nhà ta, những bài thơ của cậu đã đi vào cõi bất tử”

8.
Hai đợt sóng dâng một khối hồng
Không làm trôi được chút phấn thông
Chao ôi ngói mới nhà không mới
Riêng còn không có, có gì chung

Tiểu sử:

Tên thật: Ngô Xuân Diệu
Sinh năm: 1916
Mất năm: 1985
Bút danh: Xuân Diệu, Trảo Nha
Nơi sinh: Tuy Phước – Bình Định
Thể loại: thơ, bút ký, tiểu luận, phê bình văn học, văn học dịch

Các tác phẩm:

Thơ thơ (1938)
Gửi hương cho gió (1945)
Phấn thông vàng (1939)
Ngọn quốc kỳ (1945)
Hội nghị non sông (1946)
Mẹ con (1953)
Ngôi sao (1954)
Trường ca (1954)
Tiếng thơ (1951)
Ngói mới (1959)
Những bước đường tư tưởng của tôi (1958)
Phê bình giới thiệu thơ (1959)
Dao có mài mới sắc (1962)
Một khối hồng (1964)
Riêng chung (1960)

Giải thưởng văn chương:

Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt I- năm 1996)


Chuyện của nguời từng làm vợ nhà thơ Xuân Diệu

"Ít ai biết tôi từng được làm vợ ông vua thơ tình Việt Nam, Xuân Diệu. Những cuộc gặp gỡ định mệnh đem lại biết bao hạnh phúc và cả khổ đau, dằn vặt tôi suốt những năm qua. Người của một thời giờ đã đi vào thiên cổ, chỉ còn tôi vẫn giữ nguyên vẹn cảm xúc ngọt ngào, xen lẫn đắng cay", nữ đạo diễn Bạch Diệp tâm sự.

"Tôi tự đánh mất mối tình đầu trong trẻo"

Sinh ra trong gia đình gia phong nế nếp, tư tưởng nhân ái, yêu thương, giúp đỡ đồng loại và tinh thần yêu nước được giáo dục từ nhỏ khiến tôi sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1944, gia đình tôi chuyển xuống thị xã Hải Dương. Tôi tham gia tổng khởi nghĩa và là người thành lập cơ sở phụ nữ cứu quốc đầu tiên ở thị xã Hải Dương khi mới 16 tuổi.

Người đưa tôi vào mặt trận Việt Minh và giới thiệu tôi vào Đảng là mối tình đầu của tôi. Anh hơn tôi 7 tuổi, nguyên là phó chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch nhà nước, sau này giữ chức Bộ trưởng Bộ cơ khí luyện kim.

Chuyen cua nguoi tung lam vo nha tho Xuan Dieu

Nữ đạo diễn Bạch Diệp

Khi được hẹn để bắt mối với Việt Minh, tôi nhận được ám hiệu bằng cách thắt khăn trắng ở cổ tay. Giữa trời tối, trông thấy anh chỉ còn cách độ 5m, tôi bỗng ù té chạy. Về cơ sở, anh ra vẻ giận dữ, bảo rằng: Việt Minh được giao nhiệm vụ bắt mối mà thấy người lại bỏ chạy mất thì còn làm gì được. Sau này, tôi giải thích với anh rằng mình chưa bao giờ gặp đàn ông trong bóng tối và cũng chưa tiếp xúc một mình với nam giới. Gặp nhau ngoài đường, tôi sợ tai tiếng...

Khi tôi đang theo học lớp chính trị cao cấp, anh là Bí thư tỉnh ủy Lạng Sơn. Anh cho người về đón tôi. Tôi trộm nghĩ, mình đi làm cách mạng chứ đâu phải đi lấy chồng. Công việc của tổ chức còn ngổn ngang, lẽ nào... Các đồng chí lãnh đạo ra sức khuyên bảo, nhưng tôi vẫn cương quyết ở lại. Cho đến tận bây giờ, chúng tôi vẫn giữ mối quan hệ thân tình.

Tình yêu nhiều xa cách với nhạc sĩ Tử Phác

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, tôi tiếp tục tham gia Ban chấp hành Hội phụ nữ khu ba và thường vụ liên khu ba. Năm 19 tuổi, tôi gặp anh Tử Phác. Anh được biết đến với bài hát Quay tơ và là một trong ba người viết nhạc nổi tiếng lúc đó (cùng với nhạc sĩ Văn Cao và nhạc sĩ Phạm Duy).

Hôm ấy, trời mưa tầm tã, ai nấy đều vào hiên trú mưa. Tôi mặc chiếc áo len, khoác ba lô, thản nhiên rảo bước dưới mưa. Đường vắng tanh, tôi nhìn thấy một người đàn ông đi ngược đường, cũng để đầu trần, ra dáng phong sương. Tôi nhận ra đó là anh Tử Phác. Anh hỏi đi đâu thế. Tôi bảo đi công tác. Cùng nhau đi đến bến đò Yên Lệnh, anh mời tôi ăn trưa. Anh chẳng ăn mà cứ ngồi nhìn tôi đắm đuối.

Sau vài tuần lễ, tôi nhận được thư anh gửi. Anh sáng tác bài Mưa bay, cho người liên lạc đuổi theo tặng tôi. Trong thư, anh hẹn ngày về Thái Bình dự một buổi hòa nhạc và anh sẽ hát bài Mưa bay tặng riêng tôi. Việc không thành vì liên lạc viên không tìm được tôi...

Ngày ấy, tôi chẳng có khái niệm về văn nghệ sĩ. Gặp anh ở bến đò quê, tôi cảm mến rồi yêu. Nhiều người khuyên can rằng yêu văn nghệ sĩ chỉ "ba bảy hai mốt ngày" chứ không bao giờ nên vợ nên chồng. Ý nghĩ ấy gieo vào tôi nỗi lo sợ mơ hồ nên tôi từ chối tình cảm của anh.

"Số tôi không được làm vợ nhà thơ lớn"

Tội học dự bị đại học đến ngày hòa bình lập lại và tiếp tục học khoa ngữ văn Đại học Tổng hợp, cùng khóa với Trần Quốc Vượng, Cao Xuân Hạo... Thời gian này, Đại học Sư phạm được thành lập do Giáo sư Trần Văn Giàu làm hiệu trưởng. Ông khuyên tôi chuyển qua học sư phạm. Bố mẹ tôi hết sức tán thành ý kiến của thầy. Thầy Giàu đến tận nhà khuyên bảo, nhưng tôi vẫn cứng đầu.

Bỏ học, tôi được nhận về báo Nhân Dân. Tôi làm phóng viên được bốn năm thì Bộ Văn hóa - Thông tin mở lớp đào tạo điện ảnh đầu tiên do chuyên gia Liên Xô (cũ) giảng dạy. Tôi xin đi học cùng với Trần Vũ, Nguyễn Văn Thông, Hải Ninh... và là học viên nữ duy nhất của lớp.

Công việc làm báo cuốn tôi đi mỗi ngày, tuổi "băm" đã sầm sập đến sau lưng. Anh Hoàng Tùng mai mối cho tôi với anh Xuân Diệu. Chúng tôi cưới nhau khi tôi ở tuổi 27, còn anh ngấp nghé 40.

Có lẽ số tôi không được làm vợ nhà thơ nổi tiếng. Chưa đầy nửa năm, chúng tôi chia tay trong niềm thương và nuối tiếc.

Thật may mắn, cuối cùng cuộc đời cũng dành cho tôi một người đàn ông mong đợi. Anh tên Nguyễn Đức Tường, sinh năm 1924, là chuyên viên Bộ Công an. Chính anh đã mang lại cho tôi sự ấm áp của tình yêu, một tình yêu mà tôi dám gọi là tuyệt đối. Anh giúp tôi vượt qua tất cả khó khăn trong nghề đạo diễn khốc liệt và nhọc nhằn. Những gì tôi đạt được trong nghề có phần đóng góp của anh rất nhiều.

15 năm ấy, hạnh phúc lứa đôi viên mãn. Trên giường bệnh, anh vẫn ao ước trời cho anh sống thêm ba năm nữa để giúp tôi làm phim Hồ Chí Minh, do tôi viết kịch bản. Chúng tôi sống với nhau khoảng thời gian đúng bằng quãng thời gian lưu lạc của cô Kiều. Nhiều đồng nghiệp điện ảnh của tôi bây giờ vẫn nhắc tới anh vì hiếm có người đàn ông nào yêu vợ, chu đáo và lịch lãm như anh.

Anh Tường mất, tôi trống vắng vô cùng. Nỗi buồn theo tôi một thời gian dài, tưởng không gì bù đắp nổi. Đúng vào thời kỳ thịnh hành của phim video, đồng nghiệp kéo tôi ra khỏi nỗi buồn bằng các bộ phim. Tôi lao vào công việc, phần nào nguôi ngoai nỗi nhớ anh. Những bộ phim của tôi ra đời thuộc loại ăn khách hồi đó.

Mỗi lần đến trường quay, tôi trở thành con người khác hẳn. Có lẽ tôi làm phim không chỉ vì tình yêu với công việc mà vì mối duyên tiền định với nghề chưa trả hết...

Đạo diễn Bạch Diệp (Theo Tiếp Thị & Gia đình)


XUÂN DIỆU ( 1916 – 1985)


1 – Vài nét về tiểu sử và con người

Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu; sinh ngày 02 - 2 - 1916 tại Tùng Giản - Tuy Phước - Bình Định.

Quê quán: Đại Lộc - Can Lộc – Hà Tĩnh.

Xuân Diệu học tiểu học ở Quy Nhơn, sau đó ra học trung học ở Hà Nội và Huế.

Năm 1940, ông thi đỗ Tham tá thương chính và vào làm việc tại Mĩ Tho. Một thời gian sau ông xin thôi việc ra Hà Nội kết bạn thơ với Huy Cận.

Xuân Diệu tham gia cách mạng từ năm 1944. Sau Cách mạng tháng Tám, ông là Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn hóa cứu quốc, thư kí tòa soạn Tạp chí Tiên phong. Ông là đại biểu Quốc hội khóa I; năm 1948 là Uûy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam. Từ 1957 cho đến khi qua đời, Xuân Diệu luôn được bầu vào Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam. Ông được kết nạp vào Đảng năm 1949. Năm 1983, ông được công nhận là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức. Năm 1985, Xuân Diệu lâm trọng bệnh và qua đời.

Xuân Diệu để lại một di sản văn học đồ sộ với nhiều thể loại:

- Trước Cách mạng tháng Tám:

+ Thơ : Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945).

+ Văn xuôi : Phấn thông vàng (1939)

- Sau Cách mạng tháng Tám:

+ Thơ : Ngọn quốc kì (1945), Hội nghị non sông (1946), Dưới vàng sao (1949), Sáng (1953), Mẹ con (1954), Ngôi sao (1955), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau- Cầm tay ( 1962), Khối hồng (1964), Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi đôi cánh (1976), Thanh ca (1982).

+ Văn xuôi, tiểu luận, phê bình : Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng (1958), Ba thi hào dân tộc (1959), Phê bình giới thiệu thơ (1960), Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961), Dao có mài mới sắc (1963), Thi hào dân tộc Nguyễn Du (1966), Đi trên đường lớn (1968), Và cây dời mãi mãi xanh tươi (1971), Mài sắt nên kim (1977), Lượng thông tin và những kĩ sư tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam ( hai tập; 1981& 1982).

+ Dịch và giới thiệu thơ nước ngoài của các nhà thơ như : Targo, Puskin, Maiacốpxki, Đimitrôva,...
Một số điểm cần lưu ý :

+ Xuân Diệu là nhà thơ lớn của dân tộc, ông luôn là tấm gương lao động nghệ thuật bền bỉ, dẻo dai, giàu sức sáng tạo, đạt được nhiều thành tựu lớn trong sáng tác.

+ Xuân Diệu là người giới thiệu, phê bình thơ rất tinh tế và sắc bén. Ông có được những thành công lớn không chỉ ở việc giới thiệu, phê bình thơ cổ điển, thơ ca hiện đại, mà còn ở cả thơ ca nước ngoài. Ông thường chỉ ra được cái hay, sự độc đáo ở mỗi nhà thơ qua tác phẩm của họ.
+ Cuộc đời và thơ của Xuân Diệu gắn với quê hương đất nước. Ông có khát vọng hiến dâng sức lực và trí tuệ của mình cho dân tộc, ông không ngại khó khăn, gian khổ, hăng hái, nhiệt tình, đi khắp mọi nẻo đường Tổ quốc để phục vụ nhân dân … Chính vì lẽ đó, Xuân Diệu được tất cả độc giả trong nước yêu mến, ngưỡng mộ không chỉ ở thơ, mà còn ở tấm lòng say sưa và chân thành của ông trước cuộc đời.

2 – Xuân Diệu với thơ
2.1 – Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám :

Trước Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu có hai tập thơ: Thơ thơ (1938) và Gửi hương cho gió (1945). Ông là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới cả về nội dung lẫn hình thức. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã khẳng định: “Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại”.

Khác với các nhà thơ cùng thời kì, Xuân Diệu gắn bó thiết tha với cuộc sống, “Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”. Khát vọng mãnh liệt đến với cuộc đời, giao cảm với đời là một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của thơ Xuân Diệu.

Cảm hứng về tình yêu là cảm hứng nổi bật trong thơ Xuân Diệu. Với ông, tình yêu đã trở thành lẽ sống, “làm sao sống được mà không yêu”, mặc dầu ông cảm nhận :“ Yêu là chết ở trong lòng một ít, vì mấy khi yêu mà chắc được yêu”. Bởi thế, ông luôn có tâm trạng Vội vàng, Giục giã . Ông sợ thời gian, ông muốn vũ trụ ngưng đọng :
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt nắng
Tôi muốn buộc nắng lại
Cho hương đừng bay đi.
(Vội vàng)
hay là:
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ
Em em ơi, tình non sắp già rồi
Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai
Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.
(Giục giã)
Tình yêu được Xuân Diệu diễn tả với nhiều cung bậc, từ Gặp gỡ rồi Yêu, cho đến khi Xa cách , Biệt li êm ái và với những tâm trạng và hành động khác nhau: Có khi là sự “dại khờ”, “mời yêu” hay “ngẩn ngơ”, “nhớ mông lung”,“sầu”, … Cũng có khi “ rạo rực” khát vọng :

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm .

Xuân Diệu đã thể hiện được một tình yêu đích thực, không e ấp ngượng ngùng khi bày tỏ tình yêu. Ông muốn tạo nên một không gian thấm đẫm tình yêu để gửi gắm niềm khao khát về tình yêu vô biên và tuyệt đích :
Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ
Phải nói yêu trăm bận đến nghìn lần
Phải mặn nồng cho mãi mãi đem xuân
Đem chim bướm thả trong vườn tình ái.
(Phải nói)
Dẫu tình yêu có nồng cháy, mãnh liệt nhưng nó vẫn không được cuộc đời đón nhận, khiến “cái tôi” phải cầu xin:
Mở miệng vàng.. và hãy nói yêu tôi
Dầu chỉ là trong một phút mà thôi!...
(Mời yêu)
Càng yêu cuộc đời bao nhiêu, Xuân Diệu càng tự đày ải trái tim của mình và càng thất vọng bấy nhiêu… Điều đó đã tạo nên sự “cô đơn muôn lần muôn thuở cô đơn” cho nhà thơ. Đặc biệt, có khi “ cái tôi” đã lên đến đỉnh cao của sự cô đơn, nhỏ nhen, tầm thường:
Ta là Một, là Riêng là thứ Nhất
Không có chi bè bạn nổi cùng ta !

“Cái tôi” gục xuống, sợ hãi, thốt lên lời rên rỉ trước cuộc đời thờ ơ, lạnh nhạt, hay đau đớn van xin : “Chớ đạp hồn em”, “Chớ để riêng em phải gặp lòng em” và rơi vào tâm trạng tuyệt vọng :
Xao xác tiếng gà, trăng ngà lạnh buốt
Mắt run mờ, kỉ nữ thấy trăng trôi
Du khách đi, du khách đã đi rồi .
(Lời kĩ nữ)
Cũng vì thế, tình yêu trong thơ Xuân Diệu gắn liền với nỗi cô đơn và sự hoài nghi. Ngay cả khi “ được yêu” nhưng “ cái tôi” vẫn lo sợ vì cảm nhận sự biệt li, tan vỡ đang dần đến. Cho dù cùng người yêu dạo bước dưới ánh trăng “cái tôi” vẫn cảm thấy:
Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá
Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ.
hay là:
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ
Tình yêu đến, tình yêu đi ai biết
Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt
Những vườn xưa nay đoạn tuyệt dấu hài…”
( Giục giã)

Có thể nói, tình yêu trong thơ Xuân Diệu thời kì này rất nồng cháy, “vô biên” để rồi rơi vào bi kịch của một trái tim hiến dâng nhầm chỗ và “say khướt đau thương”.

Về nghệ thuật: Xuân Diệu cảm nhận cuộc sống bằng nhiều giác quan mà đặc biệt là cảm giác ( Thơ duyên, Vội vàng, Nhị hồ,… ). Ông sử dụng ngôn ngữ thơ rất sáng tạo, và luôn có sự tìm tòi mới mẻ, độc đáo nhằm tạo nên sức gợi tả, truyền cảm mạnh mẽ cho thơ (Đây mùa thu tới, Khi chiều giăng lưới, Vội vàng). Xuân Diệu đã sử dụng thành công sự tương quan giữa các màu sắc, âm thanh nhịp điệu để tạo nên âm hưởng trong thơ ( Nguyệt cầm, Thơ duyên,… ).

Tóm lại: Thơ của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám biểu hiện rõ tấm lòng của một con người nặng tình với đời song bế tắc. Tình yêu nam nữ trong thơ Xuân Diệu thời kì này được diễn tả với tất cả cung bậc của nó qua những vần thơ uyển chuyển giàu âm thanh, màu sắc, hình ảnh…, để lại âm vang mạnh mẽ trong lòng người đọc.

2..2 – Thơ Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám:
2.2.1 - Thời kì đầu sau Cách mạng tháng Tám:

Xuân Diệu hướng về cuộc sống cách mạng của dân tộc , tự hào, phấn khởi trước sự thành công của Cách mạng tháng Tám. Ông bộc lộ khát vọng “Mở lòng ra ôm đón lấy sao vàng” và “Đi theo tiếng gọi nước non thiêng”.

Thơ ông ở thời điểm này thể hiện cảm xúc mạnh mẽ trước hiện thực cuộc sống cách mạng với ý thức, trách nhiệm của một công dân đối với Tổ quốc. Lần đầu tiên viết về cách mạng, Xuân Diệu đã có được những vần thơ trong sáng, yêu đời. Điều đó được biểu hiện rõ ở Ngọn quốc kì (1945) và Hội nghị non sông (1946). Ý nghĩa thiêng liêng của lá cờ đỏ sao vàng được nhà thơ cảm nhận :
Cờ như mắt mở thức thâu canh
Như lửa đốt hòai trên chót đỉnh.
Cờ như nắng mãi ấm luôn luôn,
Sưởi khắp lòng ai nghe vắng lạnh.
Sớm hôm canh giữ lấy hồn thiêng,
Bay mãi trên trời, treo sứ mệnh.
(Ngọn Quốc kì)

Có thể nói, so với nhiều nhà thơ khác, thơ Xuân Diệu ra đời kịp thời, mang tính thời sự nhưng cũng giàu chất lãng mạn. Âm hưởng hùng tráng, đằm thắm thiếr tha toát lên từ tác phẩm của ông đã góp phần tạo nên sức cuốn hút, cổ vũ mạnh mẽ bạn đọc nhanh chóng vững lòng tin đến với đời sống cách mạng.

2.2.2 - Thời kì kháng chiến chống Pháp

Xuân Diệu hăng hái tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp, gắn bó với cuộc sống nhân dân. Càng ngày ông càng hiểu hơn về những con người giản dị mà vĩ đại. Đó chính là điều kiện thuận lợi giúp ông có được vốn sống và nguồn cảm hứng sáng tạo để viết nên các tập thơ: Dưới vàng sao (1949), Sáng (1953), Mẹ con (1954).

Cảm hứng chủ đạo ở các tập thơ trên là niềm tin yêu, niềm lạc quan trước hiện thực đời sống cách mạng. Ông cảm nhận cuộc đời như :
Một sớm mai hồng, một bình minh
Xanh mắt trẻ con,
Hồng môi thiếu nữ.
( Trở về)

Cuộc đời hiện tại dù còn bao gian truân thử thách nhưng đối với nhà thơ “Bà mẹ đời du dương tay mở rộng” và Hương đời luôn thấm đượm. Nhà thơ cho rằng:

Đời đáng yêu – nhiều lúc có gì đâu…
Như đôi lứa mình lặng lẽ nhìn nhau…
Một cái nắm tay, một đầu thuốc dở,
Một tiếng vang trong một mái đầu.
(Hương đời)

Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc cuộc sống cao đẹp của quần chúng và cảm thông với nỗi khổ đau của họ. Hình ảnh quần chúng lần đầu tiên xuất hiện trong thơ Xuân Diệu chính là một nét mới về đối tượng phản ảnh, nó đánh dấu cho bước chuyển quan trọng về tình cảm nhận thức trên con đường thơ của ông (Tặng làng Còng, Bà cụ mù lòa…). Trên cơ sở đó, nhà thơ đã viết nên nhiều vần thơ giản dị mà thấm nặng nghĩa tình:

Hạt cơm ăn của bà con
Là tình, là nghĩa, là ơn thấm nhuần.
( Tặng làng Còng)

Vẻ đẹp của hình ảnh của bà mẹ nghèo trong kháng chiến đã được nhà thơ thể hiện sinh động qua nhiều bài thơ và rõ nét nhất là tình yêu thương của mẹ. Cũng vì thế, khi giã từ Việt Bắc về Thủ đô Hà Nội nhà thơ không thể nào quên được hình ảnh của mẹ vào những tháng năm đó:
Mẹ nghèo vẫn cố nuôi con:
Khi bùi măng nứa, khi ngon củ mài.
Sẻ từng hạt muối cắn đôi
Nhà sàn chung ở, chăn sui đắp cùng.
(Ta chào Việt Bắc, về xuôi)
Bên cạnh đó, Xuân Diệu cũng bày tỏ được một cách chân thành nỗi trăn trở và sự kính yêu của mình khi viết về Bác. Ông đã tìm được cách thể hiện riêng và rất thấm thía:
Trên đầu tóc Bác sương ghi
Chắc đôi sợi bạc đã vì chúng con.
( Sáng)
Dù còn có hạn chế song các tập thơ trên đã thể hiện được bao nỗi niềm, tình cảm của Xuân Diệu trước hiện thực đời sống cách mạng. Thơ Xuân Diệu thời kì này đánh dấu một bước chuyển biến lớn về tư tưởng, tình cảm, giọng điệu… , trên con đường thơ của ông.

2.2.3 - Thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mĩ

- Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc bước vào cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước hiện thực sôi động đó, với sự nhạy cảm, lòng tin yêu cuộc đời mới, thơ Xuân Diệu có sự vươn lên mạnh mẽ, đề cập đến nhiều vấn đề trong cuộc đời mới, biểu hiện rõ ở ba tập thơ: Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau- Cầm tay (1962), Khối hồng (1964).

Xuân Diệu say sưa ngợi ca cuộc đời mới với những đổi thay mang ý nghĩa sâu sắc trong đời sống của dân tộc, và rồi ông trăn trở nghĩ về mình, bày tỏ chân thành niềm vui hạnh phúc qua nhiều bài thơ như : Ngói mới, Lệ, Chào Hạ Long... Ông nguyện nhìn đời bằng Đôi mắt xanh non, bởi vì, ở khắp mọi nơi, từ các làng quê vùng đồng bằng đến vùng núi Mã Pí-Lèng, hay hải đảo Chòm Cô Tô mười bảy đảo xanh, cuộc sống bao giờ cũng “xanh non”, và“mãi mãi tươi dòn”. Với Xuân Diệu, cuộc sống giờ đây chính là những trang đời đẹp nhất, “những trang tốt lành”, để rồi ông khao khát :
Muốn trùm hạnh phúc dưới trời xanh,
Có lẽ lòng tôi cũng hóa thành
Ngói mới.
(Ngói mới)
Không chỉ vui say mà nhà thơ còn tự hào khi đã qua rồi nỗi đau tê tái, “vị buồn ghê mặn chát”, “mực mài nước mắt gửi người thương”, “vũ trụ tưởng tàn, thế gian tưởng hết”…, và giờ đây hạnh phúc đến với mọi người. Vì lẽ đó, ở bài thơ Lệ nhà thơ có được cách nhìn, cách nghĩ rất thấm thía về quá khứ và hiện tại:
Xưa lệ ta sa oán hận đất trời,
Nay lệ òa, ta lại thấy đời tươi!
- Giọt nước mắt ta
Chan chứa tình người.
Trong cảnh đất nước chia cắt ông Nhớ quê Nam, với “vườn xoài trưa nắng”, “gió biển Quy Nhơn”, “mảnh vườn Sa Đéc, con kênh Tháp Mười”, nhớ “bà má Năm Căn bỏm bẻm nhai trầu”, nhớ “trăng lam Đèo Cả, mây hồng Hải Vân”; nhớ điệu bổng trầm “… qua nhớ thương em bậu”, nhớ sông Thu Bồn, Trà Khúc, sông Hương, và Gửi sông Hiền Lương bao nghĩa tình sâu nặng :
Gửi ngàn mến với muôn thương trong ấy
Gửi lời về xin bớt nhớ, khoan thương
Gửi kiên trinh một tấm lòng vàng.
Càng đến với cuộc sống, tình đất nước, tình người trong thơ Xuân Diệu càng đằm thắm thiết tha, càng mang ý nghĩa khái quát sâu sắc.
Khi cả nước có chiến tranh, Xuân Diệu nhanh chóng hòa nhịp với cuộc sống chiến đấu của dân tộc, ông không ngại khó khăn gian khổ đến với nhiều vùng đất nóng bỏng, ác liệt nhất với tâm nguyện :
Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi,
Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu,
Tôi sống với cuộc đời chiến đấu
Của triệu người yêu dấu gian lao.
(Những đêm hành quân)
Rất dễ nhận thấy, thơ viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của Xuân Diệu xuất hiện đều đặn trên báo chí vàcó khả năng ứng chiến nhạy bén trước những sự kiện của đời sống kháng chiến. Điều đó được phản ánh rõ nét qua ba tập thơ: Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi đôi cánh (1976).

Hơn lúc nào hết, nhà thơ nhận thức rõ hơn về sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam trong chiến tranh. Ông khẳng định Sự sống chẳng bao giờ chán nản, và “chúng ta yêu sự sống bền dai, vĩnh viễn, bao la!”.

Xuân Diệu có ý thức mở rộng thi đề để phản ảnh mọi mặt của đời sống. Có những cảnh như : Các cháu đi sơ tán, hay cảnh Vợ chuẩn bị hành trang cho chồng đi vào hỏa tuyến đã gợi lên cho người đọc biết bao niềm xúc động mạnh mẽ.

Nét mới của thơ Xuân Diệu ở thời kì này là vừa giàu chất trữ tình vừa chứa đựng tính triết lý biểu hiện rõ trong bài Quả sấu non trên cao và Sự sống chẳng bao giờ chán nản. Mặt khác, thơ ông còn có thêm chất trào phúng (Con chim và xác chiếc tàu bay Mĩ) .

2.2.4 - Từ sau 1975 đến khi qua đời

Sau ngày miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, Xuân Diệu viết về Miền Nam quê ngoại, lòng dạt dào vui sướng khi Đi giữa Sài Gòn trong ngày chiến thắng và ông bồi hồi nhớ về quê ngoại sau bao năm xa cách.

Ông có khát vọng: Tôi muốn đi thăm khắp cả miền Nam, Nghe nhạc Nam để “thức mãi cùng thương nhớ”, đến Phan Thiết “thăm kinh đô cá mắm”, hay Tâm sự với Quy Nhơn sau hơn ba mươi năm trở lại với quê ngọai, nơi chan chứa kỉ niệm của tuổi thơ và tự hào hơn về vẻ đẹp của miền đất này:
Ôi! Biển Quy Nhơn, biển đậm đà
Thuyền đi rẽ sóng, sóng viền hoa.
Cảm ơn quê má muôn yêu dấu
Vẫn ấp iu hoài tuổi nhỏ ta.
Nhiều vần thơ của ông ở thời kì này thể hiện sự đằm thắm nghĩa tình đối với miền Nam. Có thể nói: “Viết về miền Nam là Xuân Diệu đã khơi dậy những tình cảm, những kỉ niệm sâu sắc của mình, những hình ảnh được chắt lọc qua nhiều năm tháng để chỉ còn lại những gì thực sự là máu thịt, là rung động cho thơ”( Mã Giang Lân ).

2.2.5 - Thơ tình của Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám

Với thơ tình, Xuân Diệu đã đạt được những thành công rất đặc sắc. Ở mảng thơ này bản lĩnh nghệ thuật của Xuân Diệu bộc lộ rõ nét nhất.
Trước Cách mạng tháng Tám, thơ tình Xuân Diệu giãi bày niềm khao khát được ban phát tình yêu, hiến dâng, vồ vập nhưng rồi như Nước đổ lá khoai, và kết cục rơi vào bi kịch của một trái tim hiến dâng nhầm chỗ. Còn sau Cách mạng tháng Tám, thơ tình của ông có được một nguồn mạch mới, đó là tình yêu bền chặt, gắn bó không thể gì chia cắt nổi bời tình yêu của lứa đôi bao giờ cũng nồng nàn, đến “ngàn năm không thỏa”. Dù “anh không xứng là biển xanh / nhưng anh muốn em làm bờ cát trắng” để có thể :
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi.
( Biển )
Còn nỗi nhớ da diết, cháy bỏng của tình yêu được nhà thơ cảm nhận :
Uống xong lại khát là tình
Gặp rồi lại nhớ là mình của ta
( Uống xong lại khát)
Xuân Diệu cảm nhận sự xa cách của tình yêu “một khắc là thế kỉ”. Bởi vậy, càng yêu nhau họ càng mong muốn gần nhau, gắn bó với nhau để rồi hiểu nhau hơn. Họ khao khát mãi bên nhau để san sẻ cả niềm vui hạnh phúc, cũng như nỗi buồn. Nhà thơ cảm nhận cho rằng :
Vai anh khi để đầu em tựa
Cân cả buồn vui của một đời
(Tình yêu san sẻ)
Ông cũng nói đến nỗi đau trong tình yêu, nỗi đau đó nhức nhối vò xé tấm lòng ho, nó là Cái dằm, là“vết thương trong cõi tinh thần” của lứa đôi. Nhưng nỗi đau rồi sẽ qua đi, họ nhanh chóng “ làm lành” với nhau vì “ em là nhân của hồn anh”. Có thể nào anh lại thiếu vắng em giữa cuộc đời, khi anh hiểu rằng :
Mang em trong dạ như mầm
Ngày đi suy nghĩ đêm nằm nhớ thương
( Quả trứng và lòng đỏ)
Tình yêu trong thơ Xuân Diệu càng trở nên cao đẹp hơn khi lứa đôi hiểu rõ giữa họ với cuộc đời có mối quan hệ thắm thiết. Hạnh phúc lứa đôi gắn liền với hạnh phúc của dân tộc, nhà thơ cho rằng:
Của đời ta nhận ấm êm
Hồn trao âu yếm ta thêm tặng đời
( Tình yêu muốn hóa vô biên).
Khác với trước Cách mạng tháng Tám, giờ đây tình yêu ít có nỗi buồn mà thấm đượm niềm vui. Tình yêu đã làm trỗi dậy niềm vui, giúp lứa đôi “cởi hết ưu phiền gửi gió mây”, và khi đó giọng nói của em dù chỉ là “giọng nói thường” nhưng “anh vẫn nghe hay tựa tiếng đàn”, vẫn ngập tràn hạnh phúc trong cảnh :
Em cười ríu rít ở sau xe
Em nói lòng anh mãi lắng nghe
Thỉnh thoảng tiếng cừi em lại điểm
Đời vui khi được có em kề.
( Giọng nói )
Ngoài ra, thơ tình Xuân Diệu thời kì này bên cạnh tình yêu còn có thêm tình vợ chồng. Tuy viết về tình vợ chồng nhưng vẫn quyện hòa, chan chứa tình yêu, vẫn là thơ tình yêu. Điều này biểu hiện rõ qua các bài thơ như : Anh thương em khi ngủ, Đứa con của tình yêu, Vợ chuẩn bị hành trang cho chồng vào hỏa tuyến, Dấu nằm, Đứng chờ em,...
Có thể nói, đến với thơ tình của Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám, chúng ta nhận thấy: tóc Xuân Diệu dù đã hoa râm nhưng ông vẫn giữ được chất thanh xuân của tâm hồn để cùng tuổi trẻ nói chuyện tri âm, chuyện tình yêu, hẹn thề, nói chuyện say đắm … Bởi thế, nhà thơ Trần Lê Văn đã viết :
“ Bởi quá yêu đời nên nặng lòng ấp ủ
Bởi không muốn già, nên bền chí thanh xuân”
( Dây đàn bỗng đứt).
Mảng thơ tình của Xuân Diệu, chính là món quà tặng người đời mãi mãi, như ở bài thơ Đề tặng ông đã viết :
Tặng lòng con trai
Tặng lòng con gái
Tặng hoa tặng trời
Tặng tình mãi mãi
……….
Tặng hương - tặng Đời”.

3 – Xuân Diệu với văn xuôi, tiểu luận, phê bình

Cần lưu ý các điểm sau :

- Sự quan tâm của Xuân Diệu đối với các nhà thơ lớp kế cận và lớp trẻ. Không ít nhà thơ trẻ đã đạt được sự thành công trong sáng tạo phần nào có sự giúp đỡ, quan tâm của Xuân Diệu.

- Xuân Diệu giới thiệu thơ quần chúng. Ông chịu khó tìm kiếm, chắt lọc cái hay, cái đẹp trong những sáng tác của họ để giới thiệu một cách trân trọng.

- Xuân Diệu khám phá, phát hiện cái hay, cái đẹp trong thơ của các nhà thơ hiện đại ưu tú như : Tố Hữu, Huy Cận, Chế Lan Viên …

- Giới thiệu thành tựu của các nhà thơ lớn trong thơ ca dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương …

- Xuân Diệu dịch và giới thiệu một số nhà thơ lớn ở nước ngoài đối với người đọc Việt Nam và đồng thời giới thiệu một số bài thơ Việt Nam tiêu biểu sang các nước khác.

4 – Phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu

Xuân Diệu là một nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và sống hết mình cho cuộc sống. Xuân Diệu luôn có mặt trong cuộc sống, ông đặt tên cho một tập thơ của mình là Tôi giàu đôi mắt. Ông hăm hở, say mê sáng tạo với trách nhiệm của một công dân trước cuộc sống. Thơ ông bám lấy thực tại của cuộc sống, đưa sự vật, hiện tượng vào thơ, muốn mở rộng cánh cửa thơ cho cuộc sống tràn vào, do vậy trong thơ ông có sự bề bộn của những chi tiết hiện thực cuộc sống. Ông muốn thơ phải có sức chứa lớn và sức phản ảnh rộng lớn phong phú.

Xuân Diệu là nhà thơ giàu sức sáng tạo, luôn có ý thức tìm tòi, thể nghiệm trên nhiều phương diện (cách xây dựng hình tượng, nhịp điệu, ngôn ngữ … ). Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân tạo nên thơ hay và thơ trung bình ở mỗi tập thơ của ông.

Tâm hồn thơ Xuân Diệu luôn có sự tinh tế và nhạy cảm. Đó là yếu tố bền vững trong thơ Xuân Diệu trước và sau cách mạng. Nói cách khác, sức thanh xuân luôn tràn đầy trong tâm hồn thơ Xuân Diệu. Tươi trẻ, hăng say như cái thuở ban đầu yêu và đang yêu là nét nổi bật trong thơ Xuân Diệu. Sự nhạy cảm của tâm hồn đã tạo cho thơ ông thêm giàu hương vị của cuộc đời, tác động mãnh liệt đối với nhận thức của người đọc.

Thơ Xuân Diệu có khi còn nặng về kể, giải bày, ít ẩn ý, thiếu hàm súc, dễ dãi, dài dòng trong nhạc điệu, từ ngữ . Điều đó tạo nên sự hạn chế phần nào về sức truyền cảm và hấp dẫn của thơ ông đối với người đọc.

5 – Kết luận chung

Xuân Diệu là một nhà thơ cần mẫn,sung sức trong sáng tạo nghệ thuật và đã có những cống hiến to lớn cho văn học Việt Nam nói chung, thơ ca Việt Nam nói riêng, ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị đặc sắc, mà đặc sắc nhất là thơ tình yêu nam nữ.

Nghĩ về Xuân Diệu là chúng ta nghĩ về một tài năng, một tấm gương lao động nghệ thuật giàu sức sáng tạo, xứng đáng để các nghệ sĩ noi theo.


   Tiểu sử:

Tên thật: Ngô Xuân Diệu

Sinh năm: 1916

Mất năm: 1985

Bút danh: Xuân Diệu, Trảo Nha

Nơi sinh: Tuy Phước – Bình Định

Thể loại: thơ, bút ký, tiểu luận, phê bình văn học, văn học dịch

Các tác phẩm:

ê     Thơ thơ (1938)

ê     Gửi hương cho gió (1945)

ê     Ngọn quốc kỳ (1945)

ê     Hội nghị non sông (1946)

ê     Mẹ con (1953)

ê     Ngôi sao (1954)

ê     Trường ca (1954)

ê     Phấn thông vàng

ê     Tiếng thơ (1951)

ê     Những bước đường tư tưởng của tôi (1958)

ê     Phê bình giới thiệu thơ (1959)

ê     Dao có mài mới sắc (1962)

ê     Riêng chung (1960)

Giải thưởng văn chương:

ê     Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt I- năm 1996)

Giới thiệu một tác phẩm:

Đây mùa thu tới

 

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

Đây mùa thu tới, mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng.

 

Hơn một loài hoa đã rụng cành

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh,

Những luồng run rẩy rung rinh lá…

Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.

 

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ

Non xa khởi sự nhạt sương mờ

Đã nghe rét mướt luồn trong gió

Đã vắng người sang những chuyến đò.

 

Mây vẩn từng không, chim bay đi

Khi trời u uất hận chia li

Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Giáo dục, 2005   

Nhà thơ Xuân Diệu nói về Truyện Kiều
A. „Ðoàn viên“ đối nghịch (versus) với „về nhà là về nhà“ của nhà thơ Xuân Diệu

1. Hai quan điểm dị biệt.

Như đã đề cập trong phần trình bày về bố cục truyện Kiều, đoạn kết thúc của truyện Kiều thường bị phê bình nhiều nhất về phương diện tư tưởng. Quan điểm phê phán thường cho rằng Nguyễn Du đã cưỡng bách Kiều trở về „trả nợ đời“ một lần thứ hai, qua đó là một thứ đày đọa tàn nhẫn thân phận người phụ nữ theo cảm nghĩ phong kiến, và cuộc trở về này đã làm giảm tính chất nghệ thuật của tác phẩm thi ca qua sự „gượng gạo“ và „bất ổn, không tự nhiên“ của cuộc đoàn viên với nhiều tan vỡ bẽ bàng…
Khác với những phê phán trên, nhưng cũng khác với quan điểm ủng hộ đoạn „có hậu“trong truyện Kiều của Cao Hữu Ðỉnh, Xuân Diệu cho rằng đoạn kết này là một kết thúc tất yếu nội tại của câu chuyện cũng như của tư tưởng Nguyễn Du, nhưng, - đây là điểm nỗi bật trong bài viết của ông -, với Xuân Diệu, kết thúc tất yếu này lại không giống với quan điểm của Nguyễn Ðăng Thục (sẽ được đề cập đến sau), bởi vì nó là „Bản cáo trạng cuối cùng trong truyện Kiều“. Xuân Diệu viết:

„Kiều tưởng rời nơi tu hành về nhà là về nhà, không ngờ cuộc đời lại đòi hỏi nàng một mức nữa, qua lời Thúy Vân. Ôi cái con em gái „khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang“ kia, mày phúc hậu lắm, mày đâu có biết ý tứ gì. Sao em đã khêu cái vết thương tưởng đã lành của chị:
„Dứt lời nàng vội gạt đi,
„Sự muôn năm cũ , kể chi bây giờ?
Một lời tuy có ước xưa,
Xét mình dãi gió dầm mưa đã nhiều
Nói càng hổ thẹn trăm chiều,
Thà cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi!“
Nhưng Thúy kiều có gạt đi cũng không đưọc nữa, Kim Trọng đã bắt lấy lời Thúy Vân.“
Và sau khi phân tích hết lời lẽ của Kiều trong cuộc đối thoại với Kim Trọng, Xuân Diệu kết luận:

„…Trong lời nói của Kiều là gì, nếu không phải là bản cáo trạng xã hội, do chính nạn nhân lập nên?...; lúc tái hợp này rõ ràng là khi Nguyễn Du uất ức lên cao độ nhất“[33]…“Trong dịp kỷ niệm 200 Nguyễn Du, thiên tài văn học của dân tộc, ta hãy đem bản cáo trạng cuối cùng ở trong truyện Kiều ấy mà đổ lên đầu tất cả những xã hội bóc lột áp bức, và tuyên bố: - chúng ta là kẻ tử thù của những xã hội ấy.“

Xuân Diệu của 1965, khác với Xuân Diệu „Thơ Thơ“ của thời tiền chiến, đã đọc Nguyễn Du với cái TÂM chiến đấu thù nghịch với những xã hội bóc lột áp bức. Có lẽ không những vào thời điểm 1965 mà bất cứ lúc nào nhà thơ cũng nên chống những áp bức bất công của xã hội dù dưới hình thức nào, nhưng đọc đoạn cuối của truyện Kiều trong tâm thức như Xuân Diệu đọc có thể nói là chưa hiểu hết tâm hồn và tư tưởng của Nguyễn Du gửi gắm ở đây.
Nguyễn Ðăng Thục đã có một cái nhìn khác trong „Tâm lý văn nghệ truyện Kiều của Nguyễn Du“. Ngược với Xuân Diệu khi nhà thơ này „Cám ơn Nguyễn Du biết thương người, biết vì nể gượng nhẹ cho những trái tim, nên cố đem tài mình tả tình yêu của hai người ấy...nhưng mỗi lần đọc tới những lời Kiều nói, ba đợt trong cuộc đoàn viên, chúng ta lại xót xa tức tối không chịu nổi“ Nguyễn Ðăng Thục trong khi phân tích thực trạng tâm lý đa tình đa cảm của nàng Kiều đã nhận định:

„Tâm hồn Kiều trước kia đang còn vọng động, bắt đầu bước vào trường đời, còn ngày nay thì bình tĩnh vì đã biết qua kinh nghiệm bản thân đến chỗ giác ngộ.

Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ấy là Hồ điệp hay la Trang sinh?“

Giải thích chữ Tâm của Nguyễn Du, mà Xuân Diệu hầu như không đề cập đến, Nguyễn Ðăng Thục cho rằng:

„Nguyễn Du ở đây chủ trương giải thoát bằng cái Tâm của nhà Phật là tình yêu Bi-Trí-Dũng (Prajna-Karma) của Bồ tát Quan Âm, tức là cái Tâm giác ngộ tổng hợp cả tình lẫn lý…“
và đi đến kết luận:

„Nguyễn Du đã thâm hiểu sức mầu nhiệm của tình yêu vĩnh cữu, trường sinh bất tử

Nợ tình chưa trả cho ai
khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan

cho nên đã lấy chữ Tâm giải quyết chữ Tài, coi Tài như hạt thóc phải hủy thể đi cho bông lúa Tâm Huệ phục sinh nẩy nở, con người cũ chết đi để con người mới quân bình xuất hiện không ở đâu xa, ở tại ngay tâm hồn ta vì „Thiện căn ở tại lòng ta“. „Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài“

Rõ ràng Nguyễn Ðăng Thục đã đọc Nguyễn Du với một „tâm“ thức khác hẳn Xuân Diệu, và nếu so sánh hai quan điểm này , thì sự cám dỗ „xếp loại“ hai tư duy ấy theo ý thức hệ „diều hâu hay bồ câu“ rất dễ dàng.
Ta hãy để cám dỗ đó không nảy sinh, vì nó không nằm trong ý hướng của bài viết này, mà chỉ đặt câu hỏi „đoàn viên“ có phải là „về nhà là về nhà“ như Xuân Diệu tuyên bố.

Ðọc đoạn cuối truyện Kiều ta có thể thấy bố cục cũng như nội dung về „đoàn viên“ thật sự phức tạp hơn cũng như khác hẳn với suy nghĩ đơn thuần máy móc của Xuân Diệu „về nhà là về nhà“, chấm hết, không nói lôi thôi.

Ðã đành là về nhà nhưng làm thế nào để „về nhà“ chỉ là „về nhà“, sau 15 năm „thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần“? Có xã hội nào từ xưa cho đến ngay cả ngày hôm nay chấp nhận một cô gái điếm vào trong nhà với mọi niềm nở? Và cách đối xử ra làm sao với một con người „ong qua bướm lại đã thừa xấu xa“ như thế sau cuộc mừng vui đoàn tụ? Vui đoàn tụ có lẽ kéo dài hai ba bữa nhưng sau đó thực trạng hoàn cảnh phức tạp của từng phần tử cá nhân đã có những quá khứ khác nhau có thể tạo nên một cuộc sống chung hòa hợp hay không. Cũng như sau một cuộc huynh đệ tương tàn, anh em ngồi lại với nhau không dễ dàng nếu không có „đả thông tư tưởng“, cũng như sau một cuộc chiến tranh, chiến thắng chưa phải giản đơn là chiến thắng, chiến thắng thật sự là tái lập hòa bình trên cơ sở con người, trên cơ sở đạo đức để có thể thực hiện hòa bình vĩnh cửu. Nói tóm lại cần có một phương thức cho cuộc trở về thực sự là đoàn viên trong ý nghĩa hòa hợp.

Nhà thơ Nguyễn Du đã dành cho ta nhiều kinh ngạc khi đọc lại đoạn cuối truyện Kiều, kinh ngạc trước cái tâm bao dung của ông mà Nguyễn Ðăng Thục gọi là TÂM TỪ-BI. Có thể nói tóm tắt trong một câu: Nguyễn Du đã dành cho đoạn cuối này phần lớn nhất trái tim ông, từ đó vượt giới hạn của một nhà thơ gò bó tư nhân tư kỷ để trở thành nhà thơ đại đồng mà không bị hư hao về phuơng diện nghệ thuật, thẩm mỹ thi ca.

2. Chữ Trinh như „thiện căn ở tại lòng ta“

Ðiểm vượt thứ nhất của ông liên quan đến „chữ tình“ của nàng Kiều. Chính vì „chữ tình“ ấy mà Nguyễn Du không để nàng Kiều ở lại chùa đi tu cho hết cuộc đời còn lại. Chính tâm thức Phật giáo bát nhã của ông trong quan niệm „Phật hữu tình“ [39] đã ngăn chận mọi liễu tri có tính giáo điều về quan niệm „La hán không trở lại“ và đón nhận cái nhìn mở rộng về vị Phật hữu tình (Bố tát) sẵn sàng trở lại thế gian để cùng chia xẻ với thế gian. Do đó „sống“ là cơ hội thực hiện không chỉ giác ngộ cho riêng mình (đi tu) mà còn thực hiện hạnh chia xẻ, hạnh từ bi và bao dung ngay trên thế gian (Bồ tát thõng tay vào chợ). Có thể nói từ góc độ này Nguyễn Du xây dựng ý niệm đoàn viên với một chữ „tình“ rất mới so với quan niệm Nho giáo cũng như tập quán dân gian thời bấy giờ.

Chữ tình ấy thật sự đã khởi đầu từ khi nàng Kiều lần đầu tiên gặp Kim Trọng mà „tình trong như đã mặt ngoài còn e“. Trong chữ „tình“ ấy nhà thơ không thấy biên giới lễ nghi hay giai cấp trọng nam khinh nữ, cho nên nhà thơ đã để cho Kiều vừa kín đáo mà đa tình đưa tín hiệu yêu thương bằng cách bỏ rơi cành kim thoa, vừa táo bạo mà cũng vì thế rất đáng yêu „xăm xăm băng lối vườn khuya một mình“ tìm đến người yêu - một hành động đã bị các nhà phê bình đạo đức đương thời phê phán gắt gao khi đặt vấn đề đức hạnh của người phụ nữ. Nguyễn Du đã không ngần ngại vượt tam cương ngũ thường của Nho giáo, và xa hơn nữa có thể nói nhà thơ đã nhận rõ hơn ai giá trị thực sự của người phụ nữ, ông đã cho người phụ nữ ấy tự do TỎ TÌNH, đem hết trái tim yêu thương bộc bạch với người yêu bằng những câu thơ hay nhất trong thi ca:

„Nàng rằng khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa
Bây giờ rõ mặt đôi ta
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao“

Không có hành động nào tự nhiên, đẹp và tha thiết hơn thoát ra từ tấm lòng chan hòa tình yêu ấy, nó vượt lên trên mọi đánh giá luân lý hay so đo hơn thiệt về một chữ „TRINH“ khô cằn trong Nho giáo. Mối tình thiết tha ấy đã được Kim Trọng chia xẻ và gìn giữ trang trọng. Ðoá hoa tình mà Kiều trao tặng đã tìm được kẻ tri âm, đã là hạt „nhân“, là viên ngọc được Kim Trọng nâng niu, nhớ mãi, cho nên tương tư, cho nên hao mòn, cho nên đau đớn, cho nên ngất đi, cho nên đi tìm, tìm mãi cho đến khi gặp lại mới thôi. Có thể nói theo tâm cảm nhà thơ, Kim Trọng đã trở nên một người tình lý tưởng nhờ vào tình yêu đẹp như ngọc của Kiều hay nói khác hơn chính ngay giờ phút „vì hoa“, vì tình yêu lên tiếng réo gọi nên Kim Trọng mới hiện hữu như người tình, mới là „HOA“ của „HOA“ mới là đối tượng của tình yêu. Kim Trọng là âm vọng của Thúy Kiều trong mắt Nguyễn Du. Âm vọng ấy trở nên câu trả lời cho 15 năm sau.

Có gì trong mối tình ấy làm cho Kim Trọng suốt đời không quên, dù đã không một lần chung chăn chung gối? Có lẽ không chi khác hơn là trái tim nóng hổi yêu thương của người con gái trẻ măng, nóng hổi thiết tha hết mức nhưng đoan chính nghiêm trang cũng tột cùng „thưa rằng đừng lấy làm chơi“ như một dấu hiệu khao khát tính vĩnh viễn của tình yêu, cho nên từ khi „đá biết tuổi vàng“ thì suốt 15 năm cuộc đi tìm người yêu „đáy biển mò kim“ ấy của Kim Trọng là bởi „vàng đá“ thuở ban đầu, chứ không phải vì „trăng hoa“ nhất thời sôi nổi.

Có thể nói, với tâm cảm „đạo về tình“của ông, về một chữ „yêu“ trong đó người phụ nữ đóng vai chính quyết định tình yêu của mình, Nguyễn Du đã vượt xa những thành kiến của xã hội đương thời về người phụ nữ, đồng thời thách đố tất cả những trào lưu đương đại về tình yêu, tình dục, về „tình yêu định mệnh“ (fatalismus), về „thà một phút huy hoàng rồi chợt tối“, „yêu một lần là xong“, về „giải phóng phụ nữ bằng âm hộ“ vv và vv. Yếu tính của „tình đạo“ ấy theo Nguyễn Du nằm ở chỗ phải nêu lên được và làm tỏ rõ ranh giới giữa „ái“ và „dâm“, giữa „mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm“, chính ranh giới này người phụ nữ hoàn toàn có tự do ấn định, và chính nó khẳng định thể tính (être, Sein) tự do của người đàn bà trong tương quan tình yêu.

Trong tình yêu với Kim Trọng, Kiều đã xử dụng tự do ấy tuyệt đối: nói „dạ“ một cách đam mê cho tình ái và nói „không“ từ chối tình dâm, tiếng „không“ ấy được phát biểu không phải vì một thế lực định chế nào khác hơn là sự thành tâm muốn gìn giữ nỗi đam mê ấy được mãi hoài là đam mê ban đầu. Chữ „không“ ấy là vì tình chứ không phải vì lý, nó là lý lẽ tồn tại của tình yêu: TRUNG TRINH, trung thành và duy nhất cho tình yêu đã chọn lựa trong tự do. Cũng như giữa „hiếu và tình“, sự chọn lựa bên tình bên hiếu“ xảy ra trong tự do. Nói không với „tình“ mà chọn „hiếu“, có thể từ chối tình riêng để đáp tình mẹ cha, chứng tỏ tình yêu của Kiều không dâm, không bị vẩn đục, cho nên Kim Trọng nói: „như nàng lấy hiếu làm trinh, bụi nào cho đục được mình ấy vay“.

Nguyễn Du luận về chữ „TRINH“ có ba bảy đường với một cảm thức „siêu vượt“ về thực thể của con người „KHÔNG NGÔI THỨ“ trong quan niệm Thiền học, bóc vỏ hết những lớp „ba bảy đường“ định kiến, định chế, định mệnh, vào tận trong ý nghĩa thể tính của tình yêu, để chỉ ca ngợi, thi hóa chỉ một chữ TRINH như là một trong những điều kiện hiện hữu của tình yêu, tình người, một chữ TRINH nằm trong chữ MÊ như là mảnh đất tồn tại của „MÊ TÌNH“, ÐẮM TÌNH, như nước giếng Trọng Thủy làm sáng viên ngọc Mỵ Châu. Cho nên từ khi câu hỏi ướm tình của Kim Trọng:

„Thoa này bắt được hư không
Biết đâu hợp phố mà mong châu về?“

Viên ngọc tình ấy, dù năm dù tháng, dù trong 15 năm tưởng đã chìm đáy bể, vẫn là giấc mơ „châu về hiệp phố“ của người tình chung:

„Dẫu rằng vật đổi sao dời
Tử sinh, cũng giữ lấy lời tử sinh
Duyên kia có phụ chi tình
Mà toan chia gánh chung tình làm hai“

Cái nhân duyên „tình“ ấy của đầu câu chuyện là lý do nội tại của đoạn kết truyện Kiều..

Đường Xuân Diệu,Đường Xuân Diệu,Đường Xuân Diệu

Online Payment
 Toyota Corolla 4 seats Hanoi Airport Transfers
Dịch Vụ Đón Tiễn Sân Bay
 3
 3
 3
  Bảng giá và Đặt dịch vụ
 Toyota Innova 7 seats Hanoi Airport Transfers
Dịch Vụ Đón Tiễn Sân Bay
 5
 3
 3
  Bảng giá và Đặt dịch vụ

Toyota Hiace 16 seats

Dịch Vụ Đón Tiễn Sân Bay

  12
10
10
   Bảng giá và Đặt dịch vụ

Hướng dẫn du lịch
Free link exchange